CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO CHUẨN NGHỀ NGHIỆP GIÁO VIÊN 1 1 T ng u n nghiên c u v n đ Trong những năm gần đây, vấn đề quản lý, phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đã được đề cập nhiều trong chủ trương, đường lối, chính sách phát triển GD & ĐT của Đảng và Nhà nước. Vấn đề này cũng đã thu hút không ít sự quan tâm của các nhà quản lý, các nhà khoa học trong và ngoài nước để xác định rõ các ý nghĩa của vấn đề quản lý nguồn nhân lực nói chung và nguồn nhân lực trong giáo dục nói riêng góp phần đạt được mục tiêu của các tổ chức. Ở nước Mỹ, ngay từ những năm đầu thế kỉ XX, tác giả W. Taylor, trong tác phẩm quản lý khoa học đã đề cao các nguyên tắc tuyển chọn, huấn luyện đội ngũ nhân viên trong một tổ chức.
Tác giả cũng nhấn mạnh hiệu quả của quản lý phụ thuộc vào việc xây dựng mối quan hệ giữa chủ thể và các nhân viên. Đến những năm cuối thập niên 0 của thế kỷ XX, khi các khái niệm “vốn con người” (Human capital), “nguồn lực con người” (Human resources) xuất hiện, Hoa Kỳ đã là quốc gia đầu tiên và sau đó thịnh hành trên thế giới về vấn đề nghiên cứu phát triển nguồn nhân lực của một ngành, lĩnh vực. Tuy nhiên, nội dung và cách giải quyết vấn đề có sự khác nhau ở nhiều mức độ và phụ thuộc rất lớn vào điều kiện thực tế ở mỗi quốc gia mà nhấn mạnh tới vấn đề quản lý nhân sự hay quản trị nhân lực hoặc quản lý nguồn nhân lực. Fayol (1841 - 1915) đã đưa ra 14 nguyên tắc quản lý hành chính, theo đó, tác giả nhấn mạnh tới việc phân công lao động, thống nhất mục tiêu, thống nhất chỉ huy và tinh thần đồng đội.
Ở Viêt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh (1890 - 19 9) rất quan tâm về công tác cán bộ, Người khẳng định: "cán bộ là cái gốc của mọi công việc", "mọi 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com thành công hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém", "có cán bộ tốt thì việc gì cũng xong". Các nhà khoa học Việt Nam đã thể hiện trong các công trình nghiên cứu của mình về quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục. Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, bài viết trên các sách báo, tạp chí, đi sâu nghiên cứu các vấn đề liên quan đến phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Chẳng hạn: Tác giả Phạm Minh Hạc, (2001) Về phát trỉển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
NXB Chính trị Quốc gia; các tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, (2010) trong cuốn Đại cương Khoa học quản lý đã xác định bảy nội dung cụ thể của quản lý nguồn nhân lực nói chung; các tác giả Đặng Bá Lãm, Trần Khánh Đức (2002): Phát triển nhân lực công nghệ ưu tiên ở nước ta trong thời kỳ CNH, HĐH, NXB Giáo dục; tác giả Trần Khánh Đức, (2010) trong cuốn Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ XXI, NXB Giáo dục Việt Nam đã xác định các quan điểm cụ thể trong quản lý đội ngũ giáo viên trong ngành giáo dục; tác giả Nguyễn Trọng Hậu, (2014), trong Tài liệu giảng dạy cho lớp cao học, Trường Đại học Giáo dục Đại học Quốc gia Hà Nội, về học phần “Quản lý nguồn nhân lực trong giáo dục” đã có phần tổng quan chung về quản lý nguồn nhân lực cũng như đưa ra các nội dung của quản lý nguồn nhân lực ở một cơ sở giáo dục; tác giả Vũ Văn Tảo, (2002), đã trình bày quan điểm “Phát triển giáo dục gắn với phát triển NNL, một hướng tíếp tục đổi mới giáo dục trong thời kỳ CNH, HĐH” tại Tham luận tại Hội thảo về những vấn đề giáo dục và tâm lý của HSSV (9-10/12/2002)… Nhìn chung, các tác giả đều đã đề cập tới nhiều khía cạnh quan trọng của nguồn nhân lực và quản lý nguồn nhân lực trong một tổ chức, hay trong một cơ sở giáo dục trong đó có chất lượng của đội ngũ. Một số luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục nghiên cứu về quản lý đội ngũ giáo viên, quản lý phát triển đội ngũ CBQL trường học, quy hoạch phát triển đội ngũ giáo viên của một số địa phương như: 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Nguyễn Thị Nhung (2009) với đề tài “Phát triển đội ngũ Giáo viên Trường Trung cấp Văn hoá, Thể thao và Du lịch Bắc Giang trong giai đoạn hiện nay”; “Trần Đình Trung, (2011) với đề tài “Phát triển đội ngũ giáo viên ở Trường Cán bộ Hợp tác xã và Doanh nghiệp nhỏ trong giai đoạn hiện nay’; Vũ Thị Kim Thu, (2015) với đề tài “Quản lí đội ngũ cán bộ quản lí trường Tiểu học trên địa bàn quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng trong giai đoạn hiện nay”; Nguyễn Quý Cao, (2010) với đề tài: “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường trung học phổ thông trên địa bàn tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay”; Trần Hải Bằng, (2010) với đề tài “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường tiểu học huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định trong giai đoạn hiện nay”; Trần Thị Thúy, (2014) với đề tài “Phát triển đội ngũ cán bộ quản lý trường mầm non tại huyện Điện Biên tỉnh Điện Biên trong giai đoạn hiện nay”. Nhìn chung, qua các luận văn này, các tác giả đã đề xuất tới các biện pháp quản lý và phát triển đội ngũ nhà giáo và CBQL giáo dục cho các loại trường học mầm non, phổ thông hay chuyên nghiệp mà chưa có đề tài cho khối trường dạy nghề. Tóm lại, có thể nhìn nhận: Vấn đề quản lý phát triển ĐNGV và CBQL ở các trường học với tư cách là NNL của các cấp học là một nội dung quan trọng, cấp thiết, thu hút sự nghiên cứu của nhiều cơ quan và nhà khoa học.
Đã có nhiều tác giả nghiên cứu và có những công trình quan trọng về vấn đề này. Do đó, vấn đề “Quản lý đ i ng giáo viên Trường Trung học cơ sở CHU VĂN AN, Huyện Th nh Tr , thành phố Hà N i th o chuẩn ngh nghiệp giáo viên” chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào đề cập đến. Đó là nội dung chính tác giả luận văn xác định nghiên cứu. 1 2 Những khái niệm cơ bản 1.
Quản lý, quản lý giáo dục 1. Quản lý Từ khi xuất hiện xã hội loài người, con người đã biết quy tụ thành bầy, thành nhóm để tồn tại và phát triển. Từ lao động đơn lẻ đến lao động phối hợp, 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com phức tạp, con người đã biết phân công, hợp tác với nhau trong cộng đồng nhằm đạt được năng suất lao động cao hơn. Sự phân công, hợp tác đó đòi hỏi phải có sự chỉ huy, phối hợp, điều hành … đó chính là hoạt động quản lý.
Có nhiều định nghĩa khác nhau về khoa học quản lý tuỳ theo các quan điểm tiếp cận khác nhau. Nói về phạm trù này, Các Mác cũng đã khẳng định: "Tất cả mọi lao động xã hội hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với vận động khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng. Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên phổ biến, nhưng chưa có một định nghĩa thống nhất; với các tiếp cận khác nhau, các nhà lý luận đưa ra nhiều khái niệm về quản lý: Theo Fređerich Winslow Taylor (185 – 1915), “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất” [13, tr.
Theo Henry Fayon (1841 – 1925) thì “Quản lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động: kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra”. Ông còn khẳng định “Khi con người lao động hợp tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành và các nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là mắt lưới dệt nên mục tiêu của tổ chức”. Koontz (người Mỹ) thì “Quản lý là hoạt động đảm bảo phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được mục đích của tổ chức trong một môi trường và đối với những điều kiện nguồn lực cụ thể” [13, tr. Theo Mary Parker Pollett thì “Quản lý là nghệ thuật hoàn thành công việc thông qua người khác”.
9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Ở Việt Nam cũng có nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu về khái niệm quản lý: Thuật ngữ quản lý (từ Hán Việt) thể hiện bản chất của hoạt động này trong thực tiễn. Nó gồm hai mặt tích hợp vào nhau, quá trình “quản” gồm sự coi sóc, giữ gìn, duy trì ở trạng thái ổn định; quá trình “lý” gồm s a sang sắp xếp, đưa hệ vào thế “phát triển”. Nguyễn Văn Lê trong tác phẩm Khoa học quản lý nhà trường [19] có viết: "Quản lý một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó, mà chủ yếu là vào những con người nhằm đạt được hiệu quả tối ưu theo mục tiêu đã đề ra”. Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng “Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho các tổ chức vận hành và đạt được các mục đích của tổ chức” [9; tr.
9] Như vậy, mặc cò có nhiều cách định nghĩa khác nhau về quản lý, song nội hàm của các định nghĩa đều đề cập tới các vấn đề chủ yếu sau: - Quản lý là một hoạt động, trong đó có tác động của chủ thể quản lý đến khách thể bị quản lý và luôn luôn gắn liền với hoạt động của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung của tổ chức. - Sự tác động có định hướng tới mục tiêu của tổ chức được chủ thể quản lý thực hiện phải có ý thức, hợp quy luật, nghĩa là trên cơ sở phải có triết lý và phù hợp với thực tiễn.