phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn đƣợc chia thành 3 chƣơng, 7 tiết. 9 Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐỘI NGŨ CÔNG CHỨC 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò quản lý đội ngũ công chức 1.1 Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm công chức Công chức là một khái niệm chung đƣợc sử dụng phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới để chỉ những công dân đƣợc tuyển dụng vào làm việc thƣờng xuyên trong cơ quan nhà nƣớc.
Do tính chất đặc thù của từng quốc gia, khái niệm công chức của các nƣớc cũng không hoàn toàn thống nhất. Có nƣớc chỉ giới hạn công chức trong phạm vi những ngƣời tham gia các hoạt động quản lý nhà nƣớc. Một số nƣớc khác có quan niệm rộng hơn, công chức không chỉ bao gồm những ngƣời thực hiện trực tiếp các hoạt động quản lý nhà nƣớc mà còn bao gồm cả những ngƣời làm việc trong các cơ quan có tính chất công cộng… Ở nhiều quốc gia, dấu hiệu chung của công chức ở một nƣớc nào đó thƣờng là: - Là công dân của nƣớc đó; - Đƣợc tuyển dụng qua thi tuyển; - Đƣợc bổ nhiệm vào một ngạch hoặc một vị trí công việc; - Đƣợc hƣởng lƣơng từ ngân sách nhà nƣớc. Phạm vi công chức có thể rộng, hẹp.
Ví dụ, có những nƣớc coi công chức là những ngƣời làm việc trong bộ máy nhà nƣớc (bao gồm cả các cơ quan quản lý nhà nƣớc, đơn vị sự nghiệp hay các lực lƣợng vũ trang). Trong khi đó có những nƣớc lại chỉ giới hạn những ngƣời làm việc trong các cơ quan quản lý nhà nƣớc hay hẹp hơn nữa là trong các cơ quan quản lý hành chính nhà nƣớc. Trong một số tài liệu tham khảo, thuật ngữ công chức đƣợc hiểu theo nhiều cách khác nhau. Một số cách tiếp cận phổ biến là: Thứ nhất, công chức là ngƣời làm việc thƣờng xuyên trong bộ máy hành chính nhà nƣớc.
Quan niệm này nhằm để phân biệt những ngƣời làm cho Nhà 10 nƣớc trong các tổ chức, cơ quan khác của Nhà nƣớc bằng tính thƣờng xuyên của công vụ. Tuy nhiên, trong đó không đề cập đến điều kiện gì đã tạo cho họ là ngƣời làm thƣờng xuyên. Thứ hai, công chức là ngƣời làm việc trong bộ máy nhà nƣớc. Cách tiếp cận này mở rộng đối tƣợng làm việc cho Nhà nƣớc không chỉ trong các cơ quan thực thi quyền hành pháp mà cả các cơ quan quyền lực khác nhƣ lập pháp, tƣ pháp.
Đồng thời cũng bao gồm cả những ngƣời trong lực lƣợng vũ trang. Cách tiếp cận này không hạn chế cả những ngƣời không làm việc thƣờng xuyên, bầu cử cũng nhƣ những ngƣời làm công khác. Thứ ba, công chức là ngƣời đại diện cho Nhà nƣớc để thực thi quyền hành pháp, là nhóm ngƣời làm việc cho Nhà nƣớc trong bộ máy hành pháp, gắn liền với quyền lực hành pháp. Điều đó cũng có nghĩa là những ngƣời thực thi nhiệm vụ (tác nghiệp) các loại công vụ mang tính dịch vụ không thuộc công chức.
Hay nói cách khác, công chức chỉ những ngƣời có quyền đƣa ra các quyết định quản lý hành chính nhà nƣớc và triển khai thực hiện các quyết định đó. Cách tiếp cận này gắn liền với công vụ cho rằng tất cả những ai thực thi công vụ đều đƣợc gọi là công chức. Ở mô hình công vụ theo việc làm, phần lớn các vị trí đều tìm để thuê và bổ nhiệm những ngƣời có năng lực, khả năng. Thứ tƣ, công chức là những ngƣời làm việc trong bộ máy hành chính nhà nƣớc đƣợc tuyển dụng thông qua hình thức thi tuyển và đƣợc phân vào một ngành, ngạch, bậc trong cơ cấu thứ bậc của nền công vụ và đƣợc Nhà nƣớc trả công.
Cách tiếp cận này cụ thể hơn và loại trừ những ngƣời làm việc thông qua bầu cử, cũng không tính đến những ngƣời làm việc có tính thƣờng xuyên thông qua thi tuyển (nhƣ Thẩm phán). Ở nƣớc ta, khái niệm công chức cũng đã đƣợc quan tâm xây dựng và ngày càng hoàn thiện. Ngày 20/5/1950, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ban hành Sắc lệnh 76/SL về "Quy chế công chức", đây đƣợc xem là văn bản pháp luật đầu tiên có liên quan trực tiếp đến khái niệm này. Quy chế xác định rõ nghĩa vụ, quyền lợi của công chức, cùng các thể lệ về việc tổ chức, quản trị và sử dụng các ngạch 11 công chức trong toàn quốc, theo đó "những công dân Việt Nam được chính quyền nhân dân tuyển để giữ một chức vụ thường xuyên trong các cơ quan Chính phủ, ở trong hay ở ngoài nước, đều là công chức".
Thời gian sau đó, chúng ta cũng đã có nhiều văn bản đề cập đến công chức, công vụ và gần đây nhất, trƣớc đòi hỏi của thực tiễn khách quan, ngày 13/11/2008, kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa XII đã thông qua Luật cán bộ, công chức. Theo khoản 2, Điều 4 của Luật này, "Công chức là công dân Việt Nam, được tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh trong cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội ở Trung ương, cấp tỉnh, cấp huyện; trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân mà không phải là sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng; trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân mà không phải là sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp và trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước, tổ chức chính trị – xã hội (sau đây gọi chung là đơn vị sự nghiệp công lập), trong biên chế và hưởng lương từ ngân sách nhà nước; đối với công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thì lương được bảo đảm từ quỹ lương của đơn vị sự nghiệp công lập theo quy định của pháp luật." Nhƣ vậy, công chức theo Luật cán bộ, công chức không bao gồm những ngƣời làm việc do Nhà nƣớc chỉ định, bổ nhiệm trong các tổ chức kinh tế của Nhà nƣớc. Đó là những thực thể hoạt động dựa trên nguyên tắc lợi nhuận. Đối với nhóm lực lƣợng vũ trang, Công an nhân dân, những ngƣời là sỹ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng, hạ sỹ quan chuyên nghiệp cũng không thuộc vào phạm vi công chức.
Theo quy định này thì tiêu chí để xác định công chức gắn với cơ chế tuyển dụng, bổ nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh. Những ngƣời đủ các tiêu chí chung công chức mà đƣợc tuyển vào làm việc trong các cơ quan, đơn vị của Đảng, Nhà nƣớc, tổ chức chính trị - xã hội, bộ máy lãnh đạo, quản lý của đơn vị sự nghiệp công lập thông qua quy chế tuyển dụng (thi tuyển, xét tuyển), bổ 12 nhiệm vào ngạch, chức vụ, chức danh thì đƣợc xác định là công chức. Công chức là những ngƣời đƣợc tuyển dụng lâu dài, hoạt động của họ gắn với quyền lực công (hoặc quyền hạn hành chính nhất định) đƣợc cơ quan có thẩm quyền trao cho và chịu trách nhiệm trƣớc cơ quan, tổ chức có thẩm quyền về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn đƣợc giao. Việc quy định công chức trong phạm vi nhƣ vậy xuất phát từ mối quan hệ liên thông giữa các cơ quan của Đảng, Nhà nƣớc và tổ chức chính trị - xã hội trong hệ thống chính trị.
Đây là điểm đặc thù của Việt Nam rất khác so với một số nƣớc trên thế giới nhƣng lại hoàn toàn phù hợp với điều kiện cụ thể và thể chế chính trị ở Việt Nam. Khái niệm công chức cấp huyện Theo mô hình quản lý nhà nƣớc, nƣớc ta hiện nay có 4 cấp quản lý hành chính: trung ƣơng, cấp tỉnh, cấp huyện và cấp xã. Trong đó, cấp huyện có vai trò quan trọng đối với việc chỉ đạo, hƣớng dẫn trực tiếp cho cấp xã thực hiện đƣờng lối, chủ trƣơng, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nƣớc; chỉ đạo phát triển kinh tế - xã hội ở địa phƣơng. Ở cấp huyện, công chức thực thi công vụ nhà nƣớc đƣợc gọi là công chức cấp huyện.
Hiện nay, chƣa có khái niệm cụ thể về công chức cấp huyện. Theo Nghị định số 06/2010/NĐ-CP ngày 25/01/2010 của Chính phủ quy định những ngƣời là công chức cấp huyện gồm những đối tƣợng sau đây: Thứ nhất, công chức trong các cơ quan của Đảng Cộng sản Việt Nam ở quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (gọi chung là cấp huyện) là ngƣời giữ chức vụ, chức danh ngƣời đứng đầu, cấp phó của ngƣời đứng đầu và ngƣời làm việc trong văn phòng, cơ quan ủy ban kiểm tra, các ban của huyện ủy, quận ủy, thị ủy, thành ủy thuộc tỉnh (khoản 3, Điều 3). Thứ hai, công chức trong các cơ quan hành chính ở cấp huyện: Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và ngƣời làm việc trong Văn phòng Hội đồng nhân dân (HĐND) và Ủy ban nhân dân (UBND); Chủ tịch, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện, Chánh văn phòng, Phó Chánh văn phòng và ngƣời làm việc trong văn phòng Ủy ban nhân dân quận, huyện nơi thí điểm không tổ chức 13 Hội đồng nhân dân; Ngƣời giữ chức vụ cấp trƣởng, cấp phó và ngƣời làm việc trong cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân (khoản 2, Điều 6). Thứ ba, công chức trong hệ thống Tòa án nhân dân: Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân cấp huyện; Thẩm phán tòa án nhân dân cấp huyện; thƣ ký tòa án; ngƣời làm việc trong tòa án nhân dân cấp huyện (khoản 3, Điều 7).
Thứ tư, công chức trong hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân: Viện trƣởng, Phó Viện trƣởng Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện; kiểm sát viên, điều tra viên và ngƣời làm việc trong Viện Kiểm sát nhân dân cấp huyện (khoản 3, Điều 8). Thứ năm, công chức trong cơ quan của tổ chức chính trị - xã hội ở cấp huyện: Ngƣời làm việc trong cơ quan của các tổ chức chính trị - xã hội và tổ chức tƣơng đƣơng (khoản 3, Điều 9). Thứ sáu, Công chức trong bộ máy lãnh đạo, quản lý đơn vị sự nghiệp công lập: ngƣời đứng đầu đơn vị sự nghiệp công lập đƣợc ngân sách nhà nƣớc cấp kinh phí hoạt động thuộc huyện ủy, quận ủy, thị ủy, thành ủy thuộc tỉnh ủy; cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện (khoản 4, Điều 11).