phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động đổi mới phƣơng pháp dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh ở trƣờng THPT. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động đổi mới phƣơng pháp dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh ở các trƣờng THPT huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động đổi mới phƣơng pháp dạy học theo định hƣớng phát triển năng lực học sinh trong các trƣờng THPT huyện Bảo Thắng, tỉnh Lào Cai. 6 download by : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐỔI MỚI PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Tổng quan nghiên cứu v n đề 1. Tổng quan các nghiên cứu về quản lý đổi mới phương pháp dạy học Lý luận về PPDH đƣợc hình thành và phát triển cùng với sự phát triển của giáo dục xã hội loài ngƣời. Trên thế giới có nhiều công trình lớn nghiên cứu về PPDH, trong đó tiêu biểu nhƣ tác phẩm: Phép giảng dạy lớn (1632), Thiên đường của trái tim (1657) của J. Komensky; cuối thế kỷ XIX xuất hiện những tác phẩm: Lịch sử phương pháp giảng dạy trong nhà trường Đức của K.
Kér; Các phương pháp sư phạm (Guy Palmade, “Thế giới”, 1999); Tiến tới một phương pháp sư phạm tương tác (J. Ngoài ra, còn có rất nhiều tác phẩm của các nhà giáo dục nổi tiếng trên thế giới nhƣ Cơrupxcaia (1869-1939), A. Ở Việt Nam, nghiên cứu về đổi mới PPDH đã có nhiều bài báo của các nhà nghiên cứu, các nhà giáo đăng trên các tạp chí Nghiên cứu giáo dục, Đại học và trung học chuyên nghiệp, Thông tin khoa học giáo dục v. Một số cuốn sách nghiên cứu bài bản về PPDH và đổi mới PPDH đã ra đời nhƣ: Các biện pháp phát huy tính tích cực của học sinh trong giờ lên lớp (Đặng Thành Hƣng - 1994); Phƣơng pháp giáo dục tích cực lấy ngƣời học làm trung tâm (Nguyễn Kỳ - 1995); Dạy học và phƣơng pháp dạy học trong nhà trƣờng (Phan Trọng Ngọ - 2005); Dạy học theo định hƣớng hình thành và phát triển năng lực ngƣời học ở trƣờng phổ thông (Lê Đình Trung - 2016); Một số vấn đề đổi mới phƣơng pháp dạy học (Thái Duy Tuyên - Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 01/1996, Hà Nội) v.
7 download by : skknchat@gmail.com Nghiên cứu về quản lý hoạt động đổi mới PPDH còn có một số công trình ở trình độ luận văn thạc sĩ nhƣ: - “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trƣởng các trƣờng trunghọc cơ sở Tp.Hải Dƣơng” của thạc sỹ Nguyễn Thanh Hƣơng, ĐHSP Hà Nội, 2006. - “Biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo định hƣớng đổi mới PPDHcủa hiệu trƣởng ở các trƣờng tiểu học huyện Đắk R'Lấp”, của tác giả Thân Thị Kim Tuyến, năm 2011. - “Quản lý hoạt động đổi mới PPDH môn hoá học ở trƣờng trung học phổ thông Mê Linh - Hà Nội” của tác giả Đào Anh Phƣợng, năm 2012; - “ Biện pháp quản lý hoạt động đổi mới PPDH của hiệu trƣởng trƣờng THPH Thanh Hà, Hải Dƣơng” của tác giả Lã Hồng Huấn, năm 2012. Các đề tài này đã tập trung nghiên cứu và đề xuất các biện pháp quản lý quá trình dạy học nói chung hoặc một bộ môn cụ thể, trong đó có đề cập đến vấn đề đổi mới PPDH và quản lý đổi mới PPDH.
Những thành quả nghiên cứu trên là nền tảng tri thức làm tiền đề cho việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn quản lý giáo dục và quản lý quá trình dạy học, đặc biệt là quản lý đổi mới PPDH nhằm đáp ứng yêu cầu của đổi mới chƣơng trình và sách giáo khoa hiện nay. Tổng quan các nghiên cứu về năng lực Năng lực là một khái niệm xuất hiện từ rất lâu trong lịch sử. Theo Mulder, Weigel & Collins, khái niệm năng lực xuất hiện lần đầu tiên trong tác phẩm của Plato (Lysis 2I5 A, 380 Trƣớc công nguyên), thậm chí trƣớc đó lâu hơn. Bộ luật Hammurabi (“Code of Hammurabi” 1792-1750 Trƣớc công nguyên) đã đề cập tới một khái niệm tƣơng tự.
Trong tiếng La tinh thì năng lực xuất hiện ở hai hình thức: “competens” có nghĩa là “có thể và đƣợc phép của pháp luật/quy tắc” và “competentia” đƣợc hiểu là “có khả năng và sự chấp nhận”. Từ thế kỉ XVI khái niệm năng lực đƣợc nhận diện trong tiếng 8 download by : skknchat@gmail.com Anh, tiếng Pháp và tiếng Hà Lan, việc sử dụng các từ “competence” và “competency” ở Tây Âu cũng đƣợc tính từ thời điểm này. Theo Mulder, Weigel và Collins có thể phân loại các nghiên cứu về năng lực theo ba quan điểm tiếp cận chính đó là: quan điểm tiếp cận hành vi (the behaviourist), quan điểm tiếp cận chung (the generic) và quan điểm tiếp cận nhận thức (the congnitive). Các tác giả đều cho rằng đây là cách phân loại dễ hiểu nhất so với nhiều cách phân loại khác, ví dụ nhƣ cách phân loại của Weirnert (2001) có chín cách tiếp cận đối với năng lực: khả năng nhận thức chung, các kĩ năng nhận thức chuyên biệt, mô hình năng lực thực hiện biến đổi, mô hình năng lực thực hiện, các xu hƣớng hành động có động cơ, các khái niệm tự thân thuộc khách thể chủ thể, năng lực hành động, các năng lực cốt lõi và các siêu năng lực.
Năng lực đƣợc tiếp cận theo hƣớng chức năng: cách tiếp cận mà gọi theo quan điểm của Weinert là "chủ nghĩa nhận thức thực dụng". Theo đó, năng lực đƣợc định nghĩa đó là "Khả năng đáp ứng thành công những yêu cầu phức tạp trong một bối cảnh cụ thể thông qua việc huy động những tiền đề về mặt tâm lí xã hội". Trong định nghĩa này, điểm cốt lõi của năng lực chính là kết quả mà cá nhân đạt đƣợc thông qua hành động và sự lựa chọn hay cách thức cƣ xử trong một tình huống với những yêu cầu nhất định. Theo Howard Gardner, để giải quyết một vấn đề trong cuộc sống, con ngƣời phải kết hợp đƣợc các trí năng liên quan với nhau.
Tám lĩnh vực trí năng đó là ngôn ngữ, logic - toán học, âm nhạc, không gian, vận động cơ thể, giao tiếp, tự nhận thức và hƣớng tới thiên nhiên, sự kết hợp đó tạo thành năng lực của từng cá nhân. Trong Chƣơng trình giáo dục phổ thông Tổng thể năm 2018 của Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) có nêu: “Năng lực là thuộc tính cá nhân đƣợc hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con ngƣời huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính cá 9 download by : skknchat@gmail.com nhân khác nhƣ hứng thú, niềm tin, ý chí,…thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể”. Các khái niệm cơ bản của đề tài nghiên cứu 1. Quản lý Thuật ngữ quản lý đƣợc định nghĩa theo nhiều cách khác nhau trên cơ sở những cách tiếp cận khác nhau.
Quản lý là quá trình hoàn thành công việc thông qua con ngƣời và làm việc với con ngƣời. Quản lý là hoạch định, tổ chức, bố trí nhân sự, lãnh đạo và kiểm soát công việc và những nỗ lực của con ngƣời nhằm đạt đƣợc những mục tiêu đặt ra. Quản lý là sự tác động của con ngƣời (cơ quan quản lý) đối với con ngƣời và tập thể ngƣời nhằm làm cho hệ thống quản lý hoạt động bình thƣờng có hiệu lực giải quyết đƣợc các nhiệm vụ đề ra, là sự trông coi giữ gìn theo những yêu cầu nhất định, tổ chức và điều hành các hoạt động theo những yêu cầu nhiệm vụ nhất định. Quản lý là sự tác động, chỉ huy, điều khiển, hƣớng dẫn hành vi, quá trình xã hội để chúng phát triển hợp quy luật, đạt đƣợc mục đích đã đề ra và đúng ý chí của ngƣời quản lý.
Theo tác giả Henri Fayol (1841-1925), ngƣời Pháp, ngƣời đặt nền móng cho lý luận tổ chức cổ điển cho rằng: "Quản lý tức là lập kế hoạch, tổ chức, chỉ huy, phối hợp và kiểm tra". Khái niệm này xuất phát từ sự khái quát về các chức năng của quản lý [20, tr.w (ngƣời Mỹ) cho rằng “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt và rẻ nhất” [20, tr. Theo tác giả Phạm Minh Hạc định nghĩa: “Quản lý là một công việc vừa mang tính khoa học, vừa mang tính nghệ thuật”. Ông viết “Quản lý một hệ thống xã hội là khoa học và nghệ thuật tác động vào hệ thống đó mà chủ yếu là vào những con ngƣời nhằm đạt đƣợc hiệu quả tối ƣu đã đề ra” [16, tr.
10 download by : skknchat@gmail.com Tác giả Nguyễn Ngọc Quang lại định nghĩa: “Quản lý là tác động có mục đích, kế hoạch của chủ thể quản lí đến tập thể những ngƣời lao động nói chung là khách thể quản lí nhằm thực hiện mục tiêu dự kiến” [32, tr. Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “Định nghĩa quản lí một cách kinh điển nhất là: tác động có định hƣớng, có chủ đích của chủ thể quản lí (ngƣời quản lí) đến khách thể quản lí (ngƣời bị quản lí) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt đƣợc mục đích của tổ chức” [13, tr. Quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc của các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt đƣợc các mục đích đã định. Những khái niệm nêu trên cho thấy mặc dù các khái niệm về quản lý đƣợc đề cập ở nhiều góc độ khác nhau, có cách biểu đạt khác nhau, nhƣng ở các mức độ khác nhau đã đề cập những nhân tố cơ bản, nhƣ: chủ thể quản lý, đối tƣợng và mục tiêu quản lý.
Tuy nhiên từ những khái niệm này, những học viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành quản lý giáo dục gặp phải trở ngại, lúng túng trong việc xác định các nội dung cụ thể trong thực tiễn quản lý ở cơ quan quản lý nhà nƣớc các cấp và các trƣờng. Một số trƣờng hợp còn có sự nhầm lẫn cho rằng đối tƣợng của quản lý chỉ là con ngƣời trong các tổ chức, bỏ qua nhiều yếu tố không phải là con ngƣời nhƣng rất quan trọng trong công tác quản lý, nhƣ: tuyển sinh; cơ sở vật chất - kỹ thuật dạy học; tài chính; hệ thống thông tin quản lý giáo dục; quá trình dạy học v.