Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT Ở CÁC TRƯỜNG PTDTBT TIỂU HỌC VÀ TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới đã khẳng định ngôn ngữ tiếng Việt rất phong phú và luôn luôn phát triển. Cho tới thời điểm hiện tại, thế giới nói chung và người dân Việt Nam chúng ta nói riêng đều không thể phủ nhận vai trò quan trọng của tiếng Việt cũng như sự phát triển mạnh mẽ của ngôn ngữ mẹ đẻ. Trong quá trình phát triển, rất nhiều từ mới, cụm từ mới, thuật ngữ mới thuần Việt đã được ra đời và phục vụ tốt hơn công việc giao tiếp, diễn đạt ý tưởng và phát triển kinh tế, xã hội, khoa học.
Tiếng Việt không chỉ thu hút bằng âm sắc trầm bổng và trữ tình mà còn ở chiều sâu của ngữ nghĩa. Để hiểu đúng và sâu sắc ngôn ngữ tiếng Việt Tiếng Việt là một trong những môn học quan trọng và cần thiết nhất ở bậc tiểu học. Bên cạnh việc học toán để phát triển tư duy logic cho học sinh, việc học tiếng việt sẽ giúp hình và phát triển tư duy ngôn ngữ. Nhờ môn Tiếng Việt, học sinh sẽ được học cách giao tiếp, truyền đạt tư tưởng, cảm xúc của mình một cách chính xác và biểu cảm.
Trên cơ sở lý luận của triết học Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà khoa học giáo dục Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về lý luận quản lý giáo dục và quản lý dạy học trong nhà trường. Một số tác giả đã nghiên cứu về phương pháp dạy học tiếng Việt nhưng chỉ nghiên cứu về đặc trưng bộ môn Tiếng Việt hoặc phương pháp dạy học Tiếng Việt ở bậc tiểu học nói chung như: Giáo trình phương pháp dạy học Tiếng Việt – tác giả là Lê Phương Nga, Đỗ Xuân Thảo, Lê Hữu Tỉnh. Các tác giả đã chỉ ra vai trò giảng dạy môn Tiếng Việt có tầm quan trọng trong việc hình thành và phát triển kỹ năng sử dụng Tiếng Việt. Phương pháp giảng dạy muốn có hiệu quả phải đảm bảo đạt cả 4 kỹ năng: Nghe, nói, đọc, viết.
Tài liệu đã xây dựng cơ sở phương pháp luận cho phương pháp dạy học Tiếng Việt, xây dựng lý thuyết về phương pháp dạy học đạt hiệu quả cao. Tài liệu còn chỉ ra những điểm cần lưu ý trong quá trình giảng dạy. Người giáo viên lựa chọn phương pháp phải dựa trên mục tiêu giáo dục, kỹ năng cần đạt tới và đặc thù của đối tượng được giáo dục. Quá trình học tập phải là một quá trình học sinh tích cực chủ động và tự giác tiếp thu, thực hành kiến thức.
Vì thế, giáo viên không thể sử dung một phương pháp mà cần kết hợp nhiều phương pháp giáo dục để đạt kết quả như mong muốn. Tác giả Đỗ Đình Hoan với “Một số vấn đề cơ bản của chương trình giáo dục tiểu học mới” [29]. Tác giả đã chỉ ra xu thế giáo dục mới của thời đại và việc cần thiết phải đổi mới trong giáo dục tiểu học. Việc đổi mới trọng tâm được thể hiện ở nội dung 6 download by : skknchat@gmail.com chương trình giáo dục.
Mục tiêu của giáo dục tiểu học mới không chỉ trang bị nền tảng kiến thức, đạo đức, thể chất và tinh thần mà còn là phẩm chất và năng lực, phát triển giá trị bản thân, hòa nhập cộng đồng, xã hội. Chính vì thế, ngoài quy định các môn học bắt buộc tác giả chỉ ra vai trò quan trọng của hoạt động trải nghiệm, khám phá và phát triển năng lực bản thân. Rèn cho các em giải quyết vấn đề và thích ứng với bản thân. Trong chương trình giáo dục tiểu học mới thì người giáo viên phải là người đổi mới đầu tiên.
Từ cách nghĩ, cách tư duy vấn đề, lựa chọn phương pháp, hình thức giáo dục sao cho hiệu quả. Đặc biệt, phương pháp giáo dục mới phải đặt học sinh ở vị trí trung tâm. Bộ Giáo dục và Đào tạo với Tài liệu tham khảo cho giáo viên và CBQL giáo dục tiểu học về dạy học và phát huy tính tích cực của học sinh trong môn Toán, Tiếng Việt [6]. Đây là một tài liệu đã được cụ thể hóa phương pháp trong từng môn học để phát huy tính tích cực của học sinh ở hai môn học trọng tâm trong chương trình giáo dục Toán và Tiếng Việt ở bậc tiểu học.
Ở đây, học sinh phải được đặt ở vị trí trung tâm, người giáo viên phải là người tổ chức và hướng dẫn học sinh tiến hành học tập, biết cách khai thác tài liệu, phân tích, tổng hợp và đánh giá vấn đề. Phải cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống bằng việc kết hợp đa dạng các phương pháp dạy học, hướng đến giải quyết vấn đề để thông qua đó giúp học sinh lĩnh hội kỹ năng và phương pháp. Phải vận dụng phương pháp dạy học tình huống và phương pháp dạy học hành động, dạy học tích hợp và dạy học khám phá. Mỗi môn học đều có những đặc thù riêng.
Môn toán cần đảm bảo tính khoa học và tính vừa sức, tính hệ thóng và tính vững chắc, gắn lý thuyết với thực hành, vận dụng vào cuộc sống. Làm rõ được đặc thù cấu trúc của số học và hình học, đại lượng và đo đại lượng, giải toán có lời văn.Với dạy học Tiếng Việt ở tiểu học cần đảm bảo nguyên tắc phát triển lời nói, phát triển tư duy, chú ý đến đặc điểm tâm lý, trình độ của học sinh. Tài liệu đã chỉ ra các phương pháp dạy học vần, học tập viết, học chính tả, học tập đọc, luyện từ và câu, tập làm văn, kể chuyện. Ngoài ra, cũng có một số luận văn thạc sỹ đề cập đến phương diện quản lý cấp cơ sở giáo dục quận, huyện như: Năm 2006, tác giả Trần Thị Sáu đã nghiên cứu và đề xuất một số biện pháp đổi mới phương pháp dạy như: Các biện pháp chỉ đạo đổi mới phương pháp giảng dạy bộ môn Tiếng Việt bậc tiểu học ở quận Thủ Đức, thành phố Hồ Chí Minh.
Tác giả đã chỉ ra thực trạng giảng dạy bộ môn Tiếng Việt hiện nay, bên cạnh những ưu điểm còn tồn tại nhiều bất cập. Các phương pháp đổi mới đều gắn liền với các mục tiêu giáo dục hiện đại, gắn liền với phát triển kỹ năng và khắc phục hạn chế còn tồn tại. 7 download by : skknchat@gmail.com Tác giả Nguyễn Thanh Tịnh (2006) với Biện pháp quản lý hoạt động dạy học đối với trường tiểu học của Phòng giáo dục quận 11 thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đánh giá thực trạng, tác giả đã đề xuất 9 giải pháp cơ bản.
Từ việc bồi dưỡng năng lực cho cán bộ quản lý, tăng cường năng lực chuyên môn và nghiệp vụ sư phạm cho giáo viên, đổi mới phương pháp dạy học, ứng dụng công nghệ thông tin, tăng cường các điều kiện về cơ sở vật chất, tích cực dự giờ, thăm lớp, xây dựng bầu không khí dân chủ.Đây là những giải pháp gắn chặt với mục tiêu và xu thế giáo dục, các điều kiện, những hạn chế còn tồn tại ở nhà trường đã được tác giả đề xuất. Đặng Minh Hằng (2009) với Biện pháp quản lý hoạt động dạy học tiểu học của phòng GD&ĐT quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Nguyễn Thị Việt Hà (2014) đã nghiên cứu về Quản lý dạy học môn tiếng Việt ở các trường tiểu học thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Trong phần đánh giá thực trạng tác giả đã đề cập đến thực trạng dạy và học tại nhà trường.
Thực trạng nhận thức của cán bộ, quản lý. Thực trạng công tác soạn bài thực hiện giờ lên lớp, sử dụng phương tiện dạy học. Từ đó, đề xuất 8 biện pháp: Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên; Quản lý chương trình và kế hoạch dạy học; Đổi mới chương trình giảng dạy; Thăm lớp; Tăng cường công tác kiểm tra, đánh giá. Các đề tài trên đã đề cập đến cả lý luận và thực tiễn của việc dạy học trong chương trình tiểu học hoặc là đề cập đến phương pháp dạy học Tiếng Việt nói chung chứ chưa cụ thể.
Đối với việc Quản lý dạy học môn tiếng Việt tại các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số là một trong những vấn đề quan trọng đã được ngành giáo dục quan tâm sâu sắc, nhiều công trình nghiên cứu, nhiều đề tài đề cập đến như: Nguyễn Phúc Phận (2006) trong Luận văn thạc sỹ đã nghiên cứu về Quản lý dạy học môn tiếng Việt tại các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số Xê Đăng, tỉnh Kon Tum [36]. Đã chỉ ra đặc thù của học sinh người dân tộc thiểu số Xê Đăng tại tỉnh Kon Tum. Đã có những đánh giá về những mặt đạt được và chưa đạt được trong quá trình dạy học và quản lý việc dạy học môn Tiếng Việt. Nhưng, nhìn chung còn rất nhiều khó khăn.
Các giải pháp được đề xuất là những căn cứ để chúng ta tiếp tục nghiên cứu, ứng dụng tại các nhà trường có những đặc thù trên. Kim Thanh (2018) với bài viết Giáo dục song ngữ vùng dân tộc thiểu số trên báo Báo mới [44]: các chuyên gia cho rằng, cần tăng cường nhân rộng mô hình giáo dục song ngữ cho trẻ em dân tộc thiểu số. Tài liệu song ngữ cần được lấy ý kiến rộng rãi và thử nghiệm cẩn thận trước khi áp dụng trên diện rộng, đặc biệt là hỏi ý kiến người 8 download by : skknchat@gmail.com dân về nội dung một cách rộng rãi. Khi thực hiện dự án song ngữ, cần có đánh giá cẩn thận, đầy đủ, trong đó phải lường hết các khó khăn khi thực hiện chính sách để có những sự điều chỉnh, hỗ trợ phù hợp.
Tại các nghiên cứu trên cho thấy, mặc dù các trường học đã tăng cường nhiều biện pháp để cải thiện kết quả, song do vốn Tiếng Việt của học sinh người dân tộc thiểu số còn hạn chế, nên các em tiếp thu bài học khá chậm. Vì vậy, khi thầy, cô giáo giảng bài, các em không hiểu được nghĩa của từ nên mau quên. Một số biện pháp như giáo dục song ngữ chưa được phổ biến nên việc dạy và học tiếng Việt tiểu học còn nhiều khó khăn. Vấn đề này cứ kéo dài năm này qua năm khác và chính là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng học sinh người dân tộc thiểu số trên địa bàn các tỉnh bỏ học ngày càng nhiều.
Bên cạnh đó chủ yếu các nghiên cứu tập trung vào đối tượng học sinh trường tiểu học vùng DTTS, chưa nghiên cứu về quản lý dạy học môn Tiếng Việt tiểu học ở trường PTDTBT.