Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC VÙNG DÂN TỘC 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Ngay từ thời cổ đại, vấn đề dạy học và quản lý dạy học đã được nhiều nhà triết học, nhà giáo dục học ở cả phương Tây và phương Đông nghiên cứu tổng kết. Ta có thể thấy các tư tưởng và các công trình nghiên cứu quan trọng của Xôcrat (469- 415 TCN), của Khổng Tử (551- 475 TCN) - nhà tư tưởng, nhà giáo dục lớn Trung Hoa cổ đại, của J.A Cômenxki (1592 - 1670) đã đưa ra quan điểm quá trình dạy học phải dựa vào sự vật, hiện tượng do học sinh tự quan sát, tự suy nghĩ. Ông cũng đã nêu ra một số nguyên tắc dạy học có giá trị lớn như: nguyên tắc trực quan; nguyên tắc phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh; nguyên tắc hệ thống và liên tục; nguyên tắc củng cố kiến thức; nguyên tắc dạy theo khả năng tiếp thu của học sinh; dạy học phải thiết thực; dạy học theo nguyên tắc cá biệt… Cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, khoa học giáo dục đã thực sự có những biến đổi mới về lượng và chất.
Những vấn đề chủ yếu trong các tác phẩm kinh điển của chủ nghĩa Mác- Lê nin đã thực sự định hướng cho hoạt động giáo dục- dạy học và đã đặt ra những yêu cầu đối với quản lý giáo dục và trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác -Lê nin, nhiều nhà khoa học Liên Xô lúc đó(như MI. Konđacov, Anfanaxiep.) đã có được những thành tựu khoa học to lớn về quản lý giáo dục nói chung và quản lý hoạt động dạy học nói riêng. Trên cơ sở lý luận của triết học Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, các nhà khoa học giáo dục Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học về lý luận quản lý giáo dục và quản lý dạy học trong nhà trường. Các tác giả tiêu biểu như: - Đặng Quốc Bảo “Một số khái niệm về quản lý giáo dục”(Trường cán bộ QLGD-ĐTTW1- 1977) Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 7 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com - Nguyễn Ngọc Quang “Những khái niệm cơ bản về lý luận Quản lý giáo dục” (Trường cán bộ QLGD- ĐTTW1 - 1989)… - Trần Kiểm “Quản lý giáo dục và quản lý trường học” (Viện KHGD- Hà Nội 1990); và một số nghiên cứu khác dưới dạng các bài báo khoa học.
Về mặt phương pháp dạy học Tiếng Việt, có một số tài liệu, tác giả đề cập đến như: - Giáo trình phương pháp dạy học Tiếng Việt- Lê Phương Nga, Đỗ Xuân Thảo, Lê Hữu Tỉnh; - Tài liệu tham khảo cho giáo viên và CBQL giáo dục tiểu học về dạy học và phát huy tính tích cực của học sinh trong môn Toán, Tiếng Việt- Bộ GD&ĐT; - Biện pháp quản lý hoạt động dạy học của Hiệu trưởng trường tiểu học tại Tp. Thanh Hoá của Viên Thị Dung - trường ĐHSP Hà Nội, 2002; - Biện pháp chỉ đạo đổi mới phương pháp dạy học ở bậc tiểu học của phòng giáo dục và đào tạo thành phố Hạ Long tỉnh Quảng Ninh của Phạm Ngọc Quang - trường ĐHSP Thái Nguyên 2013. Các đề tài nghiên cứu trên đã tiến hành nghiên cứu lý luận cũng như thực trạng dạy học chương trình tiểu học hoặc phương pháp dạy học Tiếng Việt nói chung bằng những cách tiếp cận khác nhau và đã đề xuất được một số biện pháp cần thiết, khả thi để nâng cao hiệu quả quản lý. Tuy nhiên tuỳ theo đặc điểm, tính chất, điều kiện của từng loại trường, từng địa phương, từng cấp QL thì người QL phải có những biện pháp QL riêng.
Chính vì thế tôi mạnh dạn chọn đề tài “Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh người dân tộc thiểu số ở trường tiểu học huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh”. Tác giả hy vọng sẽ góp phần nhỏ vào việc nâng cao hiệu quả công tác QL hoạt động dạy học nói chung và quản lý hoạt động dạy học môn tiếng Việt cho học sinh dân tộc thiểu số ở các trường tiểu học huyện Ba Chẽ tỉnh Quảng Ninh nói riêng. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 8 http://www.vn download by : skknchat@gmail. Một số khái niệm cơ bản 1.
Quản lý Từ khi con người sống thành xã hội có sự phân công hợp tác trong lao động thì bắt đầu xuất hiện sự quản lý. Tính chất của việc quản lý thay đổi và phát triển theo sự phát triển của xã hội loài người, nhằm đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của xã hội. Vì thế có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý.Marx: "Quản lý là lao động điều khiển lao động". Marx đã viết: "Bất cứ lao động hay lao động chung nào mà tiến hành trên một quy mô lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân.Một nhạc sĩ độc tấu thì điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng" [21, tr.
Từ điển tiếng Việt thông dụng, thuật ngữ "quản lý" được định nghĩa là: "Tổ chức, điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan" [30]. Theo quan niệm truyền thống, quản lý là quá trình tác động có ý thức của chủ thể vào một bộ máy (đối tượng quản lý) bằng cách vạch ra mục tiêu cho bộ máy, tìm kiếm các biện pháp tác động để bộ máy đạt tới mục tiêu đã xác định. Theo quan niệm hiện nay, quản lý là những hoạt động có phối hợp nhằm định hướng và kiểm soát quá trình tiến tới mục tiêu. Koontz khẳng định: "Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của tổ chức.
Mục tiêu của quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được các mục đích của tổ chức với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn cá nhân ít nhất" [dẫn theo 15, tr. Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: "Quản lý là tác động có mục đích có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động nói chung là khách thể quản lý, nhằm thực hiện được mục tiêu dự kiến" [26]. Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc: "Quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức" [8, tr. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 9 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com Từ quan niệm của các học giả đã nêu, chúng ta có thể khái quát lại: "Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm định hướng, tổ chức, sử dụng các nguồn lực và phối hợp hành động của một nhóm người hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất".
Công cụ quản lý Mục Chủ thể Khách thể tiêu quản lý quản lý QL PPDH quản lý Sơ đồ 1. Các thành tố cơ bản của hoạt động quản lý 1. Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục (QLGD) là một dạng của quản lý xã hội với mục tiêu là đưa hệ thống giáo dục hay một bộ phận của nó tiến đến mục tiêu đã xây dựng. Trên cơ sở các khái niệm quản lý, cũng có những định nghĩa khác nhau về QLGD.
Theo quan điểm của tác giả Đặng Quốc Bảo: “QLGD theo nghĩa tổng quát là hoạt động điều hành, phối hợp của các lực lượng xã hội nhằm thúc đẩy công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu xã hội” [5, tr. Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, thì “QLGD là hệ thống tác động có mục đích, có kế hoạch hợp quy luật của chủ thể quản lí, nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường XHCN Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là QTDH, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất” [26, tr. Trên cơ sở định nghĩa quản lí nói chung và phân tích các định nghĩa trên, chúng tôi cho rằng: Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 10 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com QLGD chính là quá trình tác động có tổ chức, có định hướng, hợp quy luật khách quan của bô ̣ máy tổ chức đến đối tượng quản lí (HĐ giáo dục) nhằm đưa hoạt động giáo dục của hệ thống giáo dục đạt tới mục tiêu của hệ thống và nhà trường. Quản lý nhà trường - Quản lý hoạt động dạy học 1.
Quản lý nhà trường Trong hệ thống giáo dục, nhà trường chiếm giữ một phần quan trọng, chủ yếu. Đa phần các hoạt động GD đều được thực hiện trong nhà trường, thông qua hệ thống nhà trường (Mầm non, Phổ thông, THCN, CĐ, ĐH và sau ĐH). Nhà trường là “tế bào chủ chốt” của hệ thống GD từ trung ương đến cơ sở. Theo đó quan niệm QLGD luôn đi kèm với quan niệm QL nhà trường; Các nội dung QLGD luôn gắn liền với QL nhà trường.
Quản lý nhà trường có thể được coi như là sự cụ thể hoá công tác QLGD. Ngày nay nhà trường trong nền kinh tế công nghiệp không chỉ là thiết kế sư phạm đơn thuần. Công việc diễn ra trong nhà trường có mục tiêu cao nhất là hình thành “nhân cách - sức lao động”, phục vụ phát triển cộng đồng làm tăng nguồn vốn con người (Human Capital), vốn tổ chức (Organizational Capital) và cả vốn xã hội (Social Capital). Theo tác giả Phạm Minh Hạc thì “Quản lí nhà trường là thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu giáo dục, mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [16, tr.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: Quản lý nhà trường là: “Tập hợp những tác động tối ưu (cộng tác, tham gia, hỗ trợ, phối hợp, huy động, can thiệp.) của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do Nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự có hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ. Thực Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN 11 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [26, tr 10].