Chương 1. Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy thực hành nghề lái xe ô tô ở Trƣờng cao đẳng nghề theo tiếp cận năng lực thực hiện. Thực trạng công tác quản lý hoạt động dạy thực hành nghề lái xe ô tô ở Trung tâm đào tạo lái xe - Trƣờng cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ theo tiếp cận năng lực thực hiện. Một số biện pháp quản lý hoạt động dạy thực hành nghề lái xe ô tô ở Trung tâm đào tạo lái xe - Trƣờng cao đẳng nghề Công nghệ và Nông lâm Phú Thọ theo tiếp cận năng lực thực hiện.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN5 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY THỰC HÀNH NGHỀ LÁI XE Ô TÔ Ở TRƢỜNG CAO ĐẲNG NGHỀ THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC THỰC HIỆN 1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Trên thế giới hiện nay, khoa học - công nghệ phát triển rất mạnh mẽ cùng với sự phát triển năng động của các nền kinh tế, quá trình hội nhập và toàn cầu hoá đang làm cho việc rút ngắn khoảng cách về trình độ phát triển giữa các nƣớc trở nên hiện thực hơn và nhanh hơn. Khoa học công nghệ trở thành động lực cơ bản của sự phát triển kinh tế - xã hội. Giáo dục là nền tảng của sự phát triển khoa học - công nghệ, phát triển nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện đại và đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh thần trách nhiệm và năng lực của các thế hệ hiện nay và mai sau.
Đổi mới giáo dục đang diễn ra trên quy mô toàn cầu. Bối cảnh trên đã tạo nên những thay đổi sâu sắc trong giáo dục, từ quan niệm về chất lƣợng giáo dục, xây dựng nhân cách ngƣời học đến cách tổ chức quá trình và hệ thống giáo dục. Nhà trƣờng từ chỗ khép kín chuyển sang mở cửa rộng rãi, đối thoại với xã hội và gắn bó chặt chẽ với nghiên cứu khoa học - công nghệ và ứng dụng; nhà giáo thay vì chỉ truyền đạt tri thức, chuyển sang cung cấp cho ngƣời học phƣơng pháp thu nhận thông tin một cách hệ thống, có tƣ duy phân tích và tổng hợp. Đầu tƣ cho giáo dục từ chỗ đƣợc xem là phúc lợi xã hội chuyển sang đầu tƣ cho phát triển.
Vì vậy, các quốc gia, từ những nƣớc đang phát triển đến những nƣớc phát triển đều nhận thức đƣợc vai trò và vị trí hàng đầu của giáo dục, đều phải đổi mới giáo dục để có thể đáp ứng một cách năng động hơn, hiệu quả hơn, trực tiếp hơn những nhu cầu của sự phát triển đất nƣớc. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 - Hội nghị Trung ƣơng 8 khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ mục tiêu tổng quát của giáo dục trong thời kỳ CNH - HĐH: Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lƣợng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơn công Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN6 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân. Cụ thể, đối với giáo dục nghề nghiệp, tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghề nghiệp. Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phƣơng thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp theo hƣớng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thị trƣờng lao động trong nƣớc và quốc tế [14].
Nhƣ vậy mục đích của Giáo dục – đào tạo ngày nay không đơn thuần là truyền thụ cho học sinh những tri thức mà loài ngƣời đã tích luỹ đƣợc qua nhiều thế hệ mà còn phải bồi dƣỡng cho HS biết làm chủ bản thân, độc lập trong suy nghĩ, tích cực tìm tòi phát hiện ra cái mới trong học tập và nghiên cứu, biết tự giải quyết những vấn đề mới nảy sinh trong các hoạt động hàng ngày của bản thân. Đó chính là giáo dục đã trang bị cho họ những năng lực cần thiết của ngƣời lao động mới - lao động có trí tuệ: Năng lực tự học, tự nghiên cứu; năng lực phát hiện và giải quyết các vấn đề mới nảy sinh; năng lực giao tiếp, khả năng sáng tạo,.Để làm đƣợc việc này ngành Giáo dục nói chung và các nhà quản lý giáo dục nói riêng đã và đang tích cực tìm ra những giải pháp phù hợp để nâng cao chất lƣợng giáo dục, một trong những giải pháp đó chính là đổi mới cơ chế quản lý giáo dục từ cấp vĩ mô đến cấp vi mô là các nhà trƣờng. Đặc biệt trong giáo dục- đào tạo nghề thì việc quản lý hoạt động dạy thực hành nghề có vai trò quyết định đến sự hình thành kỹ năng, kỹ xảo nghề của học viên, đó là chất lƣợng Giáo dục và Đào tạo của nhà trƣờng. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ ô tô thì nghề đào tạo lái xe ô tô cũng đƣợc phát triển.
Năm 1885 Chiếc xe hơi đầu tiên chạy bằng động cơ xăng đƣợc Karl Benz phát minh ra ở Đức. Quá trình học và thi cấp giấy phép vận hành xe lƣu hành trên đƣờng đƣợc coi là một nghề đào tạo vào năm 1892 từ khi dây chuyền sản xuất ô tô của Henry Ford đi vào hoạt động. Quá trình tổ chức đào tạo nghề lái xe ở mỗi quốc gia có sự khác nhau nhƣng cùng có chung mục tiêu đó là trang bị cho ngƣời học có kỹ năng vững vàng để lái xe trên đƣờng và những kiến thức cơ bản về pháp luật giao thông Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN7 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com đƣờng bộ. Bên cạnh đó, hình thức đào tạo ở mỗi quốc gia cũng khác nhau, tuổi để sát hạch cấp Giấy phép lái xe cũng khác nhau.
Đối với Việt Nam là đất nƣớc mà công nghệ ô tô và nghề lái xe phát triển chậm hơn so với các quốc gia tiên tiến trong khu vực và trên thế giới. Chính thức bắt đầu có tại nƣớc ta từ khi ngƣời Pháp đô hộ. Loại hình đào tạo, cách thức đào tạo ở mỗi giai đoạn cũng có khác nhau. Theo lịch sử đào tạo nghề lái xe thì: + Giai đoạn Thực dân Pháp đô hộ (1858 - 1945) chƣơng trình đào tạo của Pháp là 2 năm.
Kết quả đào tạo là: Kỹ năng vận hành, kỹ năng sửa chữa và kiến thức về luật giao thông. + Giai đoạn 9 năm kháng chiến chống Pháp (1946 - 1954) đào tạo tại chỗ (truyền nghề) 2 năm. Kết quả đào tạo là: Kỹ năng vận hành và kiến thức về luật giao thông. + Giai đoạn kháng chiến chống Mỹ (1955 - 1975) đào tạo ngắn hạn để kịp thời phục vụ chiến tranh.
Kết quả đào tạo là: Kỹ năng vận hành. + Giai đoạn Sau giải phóng đất nƣớc năm 1975 đào tạo 18 tháng. Kết quả đào tạo là: Kỹ năng vận hành, kỹ năng sửa chữa và kiến thức về luật giao thông. + Giai đoạn Thời kỳ đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế đào tạo ngắn hạn Hạng B: 3 tháng, Hạng C: 5 tháng, Hạng D và E: 2 tháng.
Kết quả đào tạo là: Kỹ năng vận hành, kỹ năng sửa chữa, kiến thức về luật giao thông và kiến thức về đạo đức ngƣời lái xe Ngày nay, hội nhập quốc tế, phát triển mạnh theo hƣớng xã hội hóa các cơ sở đào tạo lái xe ô tô đƣợc hình thành nhiều. Năm 2014 cả nƣớc có 463 cơ sở đào tạo lái xe mô tô, 316 cơ sở đào tạo lái xe ô tô, 97 trung tâm sát hạch lái xe. Hiện nay đội ngũ cán bộ công chức, viên chức thực hiện nhiệm vụ quản lý đào tạo, sát hạch cấp giấy phép lái xe có 2.100 ngƣời, trong đó có 635 cán bộ công chức, viên chức làm công tác quản lý, 1. Tổng cục Đƣờng bộ Việt Nam với các chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực giao thông vận tải đã đƣa ra chƣơng trình khung, những quy định, quy phạm về các mặt có liên quan đến đào tạo lái xe.
Đây là những nghiên cứu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN8 http://www.vn download by : skknchat@gmail.com nhằm đƣa ra sản phẩm ở tầm chiến lƣợc vĩ mô, còn những nghiên cứu cụ thể chuyên đề về quản lý hoạt động dạy thực hành nghề lái xe ô tô theo tiếp cận năng lực thực hiện tại các cơ sở đào tạo và sát hạch lái xe thì hầu nhƣ chƣa có. Một số khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất trong các hoạt động của con ngƣời. Quản lý đúng tức là con ngƣời đã nhận thức đƣợc quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt đƣợc những thành công to lớn.
Nghiên cứu về quản lý sẽ giúp cho con ngƣời có đƣợc những kiến thức cơ bản nhất, chung nhất đối với hoạt động quản lý. Quản lý là sử dụng tối ƣu nguồn nhân lực và vật chất sẵn có để làm cho tổ chức đạt đƣợc các mục tiêu của nó. Quản lý là tạo ra và duy trì các điều kiện trong một tổ chức để tạo điều kiện cho việc đạt đƣợc các mục tiêu của nó. Quản lý là một hiện tƣợng lịch sử, xã hội.
Có nhiều nhà quản lý đã nêu ra các quan niệm khác nhau về “Quản lý”. - Theo tác giả Trần Kiểm thì “Quản lý là những tác động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn nhân lực trong và ngoài tổ chức một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao”[10, Tr. - Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt: "Quản lý là quá trình có định hướng, có mục tiêu, quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu xác định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà nhà quản lý mong muốn”.12] Quản lý chính là các hoạt động do một hoặc nhiều ngƣời điều phối hành động của những ngƣời khác nhằm thu đƣợc kết quả mong muốn.
Tổng hợp những quan niệm trên ta có thể định nghĩa: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hƣớng đích của chủ thể quản lý tới đối tƣợng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra”.Từ định nghĩa trên, có thể rút ra một số đặc điểm sau: - Quản lý bao giờ cũng là một tác động hƣớng đích, có mục tiêu xác định. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN9 http://www.vn download by : skknchat@gmail.