Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT THEO CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG MỚI Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Cho đến nay, không chương trình GDPT của quốc gia nào lại không chú ý, đề cao và coi trọng dạy học ngôn ngữ quốc gia (chủ yếu là tiếng mẹ đẻ). Biết đọc, biết viết (literacy) là cơ sở và công cụ cho việc học những kiến thức khác, những môn học khác.
Ban đầu là học để biết đọc, biết viết và sau đó thông qua đọc và viết để học; học trong nhà trường, ngoài xã hội và học suốt đời. Cũng phải thông qua đọc và viết mà làm, thì làm mới có hiệu quả cao. Làm những công việc thô sơ, đơn giản đã thế; trong thế giới hiện đại, nhiều công việc không thể làm được nếu không có học, không được học; trong đó có khả năng “đọc ra”, “đọc thủng” văn bản để nắm được thông tin, những chỉ dẫn và ý nghĩa của thông điệp một cách chính xác; không phải chỉ ở những văn bản phức tạp chuyên sâu mà ngay từ một tờ rơi, đơn thuốc. Chính xuất phát từ tầm quan trọng này mà cho đến đầu thế kỷ XXI, yêu cầu biết đọc, biết viết cho tất cả mọi người vẫn là một trong những mục tiêu quan trọng mà UNESCO kêu gọi tất cả các quốc gia hoàn thành vào năm 2015.
Chính vì thế, hầu như tất cả các nước đều xác định đây là môn học độc lập, môn học công cụ. Chương trình Tiếng Nga của Cộng hòa Nga (2011) ghi rõ: “Trong nhà trường phổ thông, môn Tiếng Nga giữ vai trò chủ đạo. Bởi những thành tích của việc học tiếng Nga - trong nhiều trường hợp - quyết định kết quả học tập của học sinh ở các môn học khác, nó cũng như đảm bảo được việc thích nghi và thành công trong cộng đồng trẻ” [21]. Mục tiêu bao trùm của Chương trình Tiếng Anh (2010) của Singapore là “Nâng cao năng lực sử dụng ngôn ngữ lưu loát và các khả năng có thể có của học sinh, hướng tới việc sử dụng ngôn ngữ hiệu quả….Sự thành thạo của học sinh trong việc sử dụng ngôn ngữ được đánh giá bởi những kết quả học tập mà họ đạt được” 5 download by : skknchat@gmail.
Như thế cũng như tiếng Nga ở nước Nga, việc dạy học tiếng Anh ở Singapore chú trọng vào năng lực sử dụng ngôn ngữ và đánh giá năng lực không chỉ ở môn học này mà ở tất cả các “kết quả học tập mà họ đạt được”. Ý thức được sứ mệnh mang tính “công cụ, phương tiện” quyết định chất lượng giáo dục của ngôn ngữ quốc gia trong chương trình giáo dục phổ thông, vào năm 2010, Hội đồng các Thống đốc và Giám đốc giáo dục các bang của Hoa Kỳ đã thống nhất Chuẩn chung cốt lõi về môn tiếng Anh cùng với những yêu cầu đọc/viết tối thiểu cho các môn học khác, với mục đích “phát triển và hỗ trợ các kỹ năng học trên đại học và đi tìm việc làm về đọc, viết, nói, nghe và diễn đạt ngôn ngữ”… Chuẩn đưa ra các yêu cầu chung chẳng những cho môn Tiếng Anh nghệ thuật (ELA) mà còn cho các môn Lịch sử/nghiên cứu xã hội, Khoa học tự nhiên và kỹ thuật…[23]. Ở Việt Nam Từ lâu, Việt Nam đã nhấn mạnh vai trò công cụ của tiếng Việt trong nhiều văn bản từ tiểu học đến THPT. Nhưng trên thực tế dường như tiếng Việt chỉ được chú ý tập trung cao độ ở cấp tiểu học, nhất là các lớp đầu cấp.
Các lớp này nếu không biết đọc, biết viết thì không thể học lên cao hơn. Và do vậy việc coi tiếng Việt như là công cụ, phương tiện là tất yếu, không có gì phải bàn cãi, tranh luận cả. Vấn đề chỉ xuất hiện khi HS càng học lên cao (THCS, THPT, ĐH…) thì dường như tiếng Việt không được coi trọng nữa. Hầu hết mọi người bằng lòng với vốn tiếng Việt ở trình độ tối thiểu đã được trang bị ở Tiểu học cộng với bản năng tiếng mẹ đẻ của mình.
Càng lớn lên, họ càng cảm thấy không cần học tiếng Việt nữa cũng được, miễn là đọc được, viết được tiếng Việt. Tình trạng cứ nhìn vào mặt chữ trên trang giấy đọc được ra tiếng Việt là coi như đã biết đọc, đã hiểu văn bản… khá phổ biến. Rất nhiều người không phân biệt được “mù chữ” và “mù văn”. Trong khi cuộc sống, khoa học- công nghệ vẫn phát triển liên tục, mạnh mẽ.
Để giao tiếp có hiệu quả trong thế giới hiện đại, các kỹ năng ngôn ngữ cần được trang bị và rèn luyện liên tục, không ngừng nghỉ. Chính cuộc sống hiện đại đòi hỏi chương trình giáo dục nhiều nước phải bổ sung thêm các kỹ năng mới, ngoài 4 kỹ 6 download by : skknchat@gmail.com năng cơ bản (đọc, nghe, nói, viết) cần có thêm nhìn/quan sát (viewing) và trình bày (presenting). Năm 2018, chương trình giáo dục phổ thông môn ngữ văn đã được thông qua; trong đó môn Tiếng Việt bậc tiểu học sẽ giúp HS hình thành và phát triển những phẩm chất chủ yếu với các biểu hiện cụ thể (yêu thiên nhiên, gia đình, quê hương; có ý thức đối với cội nguồn.); Giúp học sinh bước đầu hình thành các năng lực chung, phát triển năng lực ngôn ngữ ở tất cả các kĩ năng đọc, viết, nói và nghe với mức độ căn bản (đọc đúng, trôi chảy văn bản; hiểu được nội dung, thông tin chính của văn bản. Trước yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện giáo dục hiện nay, nhiều nghiên cứu tập trung vào triển khai định hướng giáo dục mới vào thực tiễn giáo dục và công tác quản lý ở các trường phổ thông hiện nay.
Điển hình là nghiên cứu của đề tài luận văn thạc sĩ: Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường Tiểu học thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh” [5]. Quản lý chất lượng giảng dạy môn Tiếng Việt lớp 5 ở một số trường tiểu học tại quận 6, thành phố Hồ Chí Minh [16]. Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học vùng dân tộc thiểu số huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên [12]. Các đề tài trên đã nghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều mặt của hoạt động dạy học và quản lý hoạt động dạy học tuy nhiên, chưa có một nghiên cứu nào đề cập một cách trực tiếp, toàn diện về quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo CT GDPTM ở các trường Tiểu học cụ thể.
Vì vậy, vấn đề luận văn này đặt ra ở đây là tìm hiểu hoạt động dạy học môn Tiếng Việt theo CT GDPTM ở các trường Tiểu học huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt là cơ sở để nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học của huyện Vân Đồn, chính là vấn đề mà tôi quan tâm nghiên cứu trong luận văn này. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản lý, quản lý giáo dục * Quản lý: Quản lý là một quá trình tác động, gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý một cách hợp quy luật nhằm đạt được mục tiêu chung. 7 download by : skknchat@gmail.com Theo tác giả Harol Koontz: "Quản lý là một nghệ thuật nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra thông qua việc điều khiển, chỉ huy, phối hợp, hướng dẫn hoạt động của những người khác" [25].
Theo tác giả Nguyễn Minh Đạo: "Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người nhằm đạt tới mục tiêu đã đề ra" [26]. Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: "Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức" [3, tr. Tác giả Vũ Dũng đưa ra khái niệm: "Quản lý là sự tác động có định hướng, có mục đích, có kế hoạch và có hệ thống thông tin của chủ thể đến khách thể của nó" [4, tr. Từ những quan niệm này cho thấy, quản lý là một hoạt động liên tục và cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong tổ chức.
Đó là quá trình tạo nên sức mạnh gắn liền các hoạt động của các cá nhân với nhau trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung. Giáo dục là một hoạt động đặc trưng của lao động xã hội. Đây là một hoạt động chuyên môn nhằm thực hiện quá trình truyền đạt và lĩnh hội kinh nghiệm lịch sử xã hội qua các thế hệ, đồng thời là một động lực thúc đẩy sự phát triển của xã hội. Để hoạt động này vận hành có hiệu quả, giáo dục phải được tổ chức thành các cơ sở, tạo nên một hệ thống các cơ sở giáo dục, điều này dẫn đến một tất yếu là phải có một lĩnh vực hoạt động có tính độc lập tương đối trong giáo dục, đó là công tác quản lý giáo dục, để quản lý các cơ sở giáo dục có trong thực tiễn.
* Quản lý giáo dục: Trong quá trình nghiên cứu về lĩnh vực quản lý giáo dục, đã có nhiều tác giả trong và ngoài nước đưa ra các khái niệm với các cách biểu thị khác nhau: + Theo tác giả M. Kônđacốp: "Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả 8 download by : skknchat@gmail.com các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến Trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý của trẻ em" [11, tr. + Theo tác giả Phạm Minh Hạc: "Quản lý giáo dục là quản lý trường học, thực hiện đường lối giáo dục của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục, để tiến tới mục tiêu đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và với từng học sinh" [7, tr. + Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: "Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối, nguyên lý của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam mà tiêu điểm hội tụ là quá trình dạy học, giáo dục thế hệ trẻ, đưa hệ thống giáo dục đến mục tiêu dự kiến tiến lên trạng thái về chất" [14, tr.