CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT LỚP 1 THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH TIỂU HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1.1 Trên thế giới Trước kia đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí mang tính xã hội thì trong giai đoạn hiện nay giáo dục chuyển sang là khách hàng và các nhà quản lý giáo dục cần thay đổi tư duy. Quyền lợi của khách hàng là tiêu chí quan trọng, trong đó (dẫn theo C. Prasad), người học như một khách hàng quan niệm này xuất phát từ nước Tây Âu[37].
Xu thế đó đã đưa giáo dục nên tầm cao mới, chuyển từ phục vụ những cái gì là thế mạnh của nhà trường sang nhà trường nghiên cứu và phát triển những sản phẩm gì xã hội cần theo tiêu chuẩn chất lượng mà các chính phủ đề ra dựa trên nhu cầu xã hội. Tác giả Tony Wagner: The Global Achievement Gap, bản tiếng Việt do Dt Books phát hành năm 2014) [34] “cuối sách tổng hợp các bài viết là các công trình nghiên cứu giáo dục, trong các công trình đó đã chỉ ta những hạn chế, trong quá trình tổ chức dạy học ở một số trường công. Theo Ông thì nền giáo dục của chúng ta đang phải đối mặt với sự lỗi thời. Thay vì dạy học sinh trở thành những người có khả năng giải quyết vấn đề và có tư duy phản biện nhưng chúng ta đang khiến người trẻ tập trung vào việc học theo kiểu ghi nhớ dữ liệu và chuẩn bị cho các kì thi”.
Rodger, “Tiếp cận năng lực trong dạy học chú trọng chuẩn đầu ra, triển khai chú trọng kết quả học tập, mục tiêu mong đợi là những gì người học dự kiến phải làm được hơn là nhắm tới những gì họ cần phải học được” [38]. Đây cũng là xu thế đang triển khai ở Việt Nam khi chuyển từ dạy học truyền thụ kiến thức sang tiếp cận năng lực. Ở Việt Nam Đối với quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực có thể kể đến một số công trình nghiên cứu như: tài liệu “Những khái niệm cơ bản về lý luận quản lý giáo dục” của tác giả Nguyễn Ngọc Quang [29]; tác giả Bùi Việt Phú với tài liệu “Giáo trình Chiến lược và Chính sách phát triển giáo dục” [31], trong đó có những quan điểm đưa ra về mô hình theo tiếp cận năng lực là tiền đề xây dựng chương trình GDPT 2018 Tác giả Phan Thị Bích có bài viết “Quản lí hoạt động đổi mới phương pháp dạy học ở các trường trung học cơ sở Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận”. Tạp chí Giáo dục, số đặc biệt tháng 10/2019 [5], trong nghiên cứu tác giả, việc đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh ở cấp THCS đã được chỉ ra.
Tác giả Trần Thị Ngần nghiên cứu về “Sưu tầm, thiết kế và sử dụng tư liệu dạy học trong dạy học Sinh học 8 nhằm phát triển năng lực tư duy cho học sinh”, Tạp chí Giáo dục, số 457 (Kì 1-7/2019) [28], kết quả nghiên cứu đề xuất quy trình thiết kế các tư liệu dạy học và hướng dẫn cách sử dụng các tài liệu đó trong dạy học đáp ứng CTGDPT 2018, các phương pháp nghiên cứu đã giúp cho việc sưu tầm, thiết kế các tư liệu dạy học trong dạy học Sinh học 8 nhằm phát triển năng lực tự học cho học sinh được thực hiện cách dễ dàng hơn. Thực trạng kỹ năng hiểu nghĩa Tiếng Việt của học sinh lớp 1 dân tộc Thái vùng Tây Bắc của tác giả Nguyễn Quốc Thái và Nguyễn Văn Hồng, tác giả đã tiến hành khảo sát 280 cán bộ quản lý giáo viên về thực trạng kỹ năng hiểu từ TV của học sinh lớp 1 DT Thái vùng Tây Bắc và thực trạng KN hiểu câu TV của học sinh lớp 1 DT Thái vùng Tây Bắc, từ đó đưa ra khuyến nghị nhằm nâng cao kĩ năng hiểu nghĩa Tiếng Việt cho học sinh lớp 1[32]. Bên cạnh đó, nhiều tác giả đã nghiên cứu quản lý hoạt động dạy học các bộ môn ở bậc phổ thông điển hình như: 8 Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục vệ tại Đại học Vinh năm 2016 của tác giả Trần Dũng. Qua nghiên cứu tác giả đã bàn luận sâu sắc về cơ sở lý luận quản lí hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực học sinh.
Trên cơ sở khung lý luận luận án khảo sát bằng phiếu hỏi bên cạnh nghiên cứu sản và và phỏng vấn sâu, từ đó tác giả có đánh giá sâu sắc về thực trạng quản lý hoạt động dạy học ở trường trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực học sinh, trên cơ sở đó tác giả đề xuất 6 biện pháp nhằm khắc phục hạn chế, thiếu sót đã chỉ ra [10] Tác giả Phạm Thị Quỳnh Như nghiên cứu “quản lý dạy học môn Tiếng Anh ở các trường tiểu học theo hướng phát triển năng lực học sinh, tác giả xây dựng cơ sở lý luận theo tiếp cận chức năng quản lý”. Trên cơ sở đó, tác giả tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng từ đó đề xuất các biện pháp dạy học môn Tiếng Anh ở các trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh theo hướng phát triển năng lực[25]. Tác giả Phạm Thị Bích Ngọc, nghiên cứu đề tài: Quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trưởng tiểu học quận Ngô Quyền, thành phố Hà Phòng, tác giả đã tổng quan nghiên cứu vấn đề đưa ra nhận xét đánh giá về khoảng trống chưa nghiên cứu. Tác giả xây dựng hệ thống cơ sở lý luận về quản lý dạy học môn Tiếng Việt, trên cơ sở tiếp cận các thành tố dạy học, tác giả đã tiến hành khảo sát và đánh giá ưu điểm, hạn chế và đề ra các biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Việt ở các trường tiểu học quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt[26].
Trên cơ sở tìm hiểu các nghiên cứu trên, tác giả có tài liệu khoa học phong phú đặc biệt cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học nói chung và quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực Mặc dù có nhiều đề tài nghiên cứu về các nội dung này, trong đó đã có nghiên cứu nhiều vấn đề, nhiều mặt của hoạt động dạy học và quản lý hoạt 9 động dạy học. Các nghiên cứu đa dạng với các điều kiện thực hiện khác nhau. Đây là điều kiện thuận lợi để tác giả kế thừa những công trình trên và hoàn thiện khung lý luận. Vì vậy, vấn đề luận văn này đặt ra ở đây là tìm hiểu hoạt động dạy học môn Tiếng Việt lớp 1 theo hướng phát triển năng lực ở các trường Tiểu học huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh nhằm nâng cao chất lượng dạy học môn Tiếng Việt là cơ sở để nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học của huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh, chính là vấn đề mà tác giả quan tâm nghiên cứu trong luận văn này.
Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lý giáo dục; quản lý nhà trường 1. Quản lý Quản lý có vai trò quan trọng trong tất cả các lĩnh vực của con người, muốn nâng cao hiệu quả hoạt động nào đó thì yếu tố quản lý có vai trò quyết định. Theo Frederick Winslow Taylor (1856 - 1915) có quan điểm rằng, người quản lý biết được điều người quản lý muốn biết người khác làm và sau đó thấy được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tối ưu nhất (Theo Frederick Winslow Taylor (1856 - 1915)[31].
Bên cạnh đó, tác giả Koontz H., O’donnell đưa ra khái niệm khẳng định về tầm quan trọng của công việc quản lý. Như vậy, mọi nhà quản lý ở mọi cấp độ và trong mọi cơ sở đều có một nhiệm vụ đó là xây dựng cấu trúc duy trì hoạt động và là thiết kế và duy trì môi trường mà trong đó cá nhân làm việc với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành các nhiệm vụ, các mục tiêu đã định [24]. Một quan niệm nữa của tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt về quản lý được hiểu như sau : quản lý là như một mục tiêu và là định hướng, quá trình có mục đích, quản lý là một chỉnh thể toàn vẹn, là quá trình tác động đến 10 hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định” [27]. Tác giả Trần Kiểm có quan điểm: Những tác động chủ thể quản lý trong việc huy động, điều chỉnh, phối hợp tổ chức huy động các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách hiệu quả nhất nhằm đạt mục đích của tổ chức.
Trong luận văn có thể hiểu: quản lý là hoạt động có tính mục đích, có định hướng có của người chủ thể quản lý tác động có qua lại với đến khách thể quản lý trong đơn vị nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích hướng đến của đơn vị đó. Quản lý giáo dục Quản lý giáo dục có nhiều tác giả nghiên cứu như theo theo tác giả M. Kônđacốp: "Quản lý giáo dục là tác động có hệ thống, có kế hoạch, có ý thức và hướng đích của chủ thể quản lý ở các cấp khác nhau đến tất cả các mắt xích của hệ thống (từ Bộ đến Trường) nhằm mục đích đảm bảo việc hình thành nhân cách cho thế hệ trẻ trên cơ sở nhận thức và vận dụng những quy luật của quá trình giáo dục, của sự phát triển thể lực và tâm lý của trẻ em" [11, tr. Bên cạnh đó, tác giả Nguyễn Quốc Chí, Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: quản lý giáo dục là hoạt động có ý thức bằng cách áp dụng các quy luật khách quan của từng thứ bậc quản lý giáo dục tác động đến toàn bộ hệ thống giáo dục nhằm làm cho hệ thống đạt được mục tiêu của tổ chức”[13].
Quản lý nhà trường Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Hiện nay, quản lý trường học là tập hợp những yếu tố chủ yếu tác động nhằm hiệu quả cao của chủ thể quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và cán bộ khác, để làm được điều đó tác giả cho rằng phải tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp vào do lao động xây dựng vốn tự có. Phải tập trung vào việc đẩy mạnh mọi HĐ của cơ sở giáo dục mà điểm hội tụ là quá trình 11 giáo dục nguồn nhân lực trẻ [29].