phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm có 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh THCS. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường THCS thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh ở các trường THCS thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC HỌC SINH Ở CÁC TRƢỜNG THCS 1.
Tổng quan vấn đềnghiên cứu 1. Các nghiên cứu ở nước ngoài Quản lý giáo dục, quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh là những vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước hết sức quan tâm. Việc chú trọng tới các biện pháp quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động dạy học trong nhà trường luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà quản lý nước ngoài đã đề cập đến vấn đề cốt lõi của quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học như: Platon (427-347 trước Công nguyên) ông đã khẳng định được vai trò tất yếu của giáo dục trong xã hội, tính quyết định của chính trị đối với giáo dục, phần nào nói lên tầm quan trọng của thể chế xã hội đối với giáo dục nói chung và dạy học nói riêng, tuy rằng các quan điểm của ông còn hạn chế về mặt bình đẳng trong giáo dục.
Khổng Tử (551- 479 trước Công nguyên) với quan điểm dạy học là: “Dùng cách gợi mở, đi từ gần tới xa, từ đơn giản đến phức tạp, nhưng vẫn đòi hỏi người học phải tích cực suy nghĩ…Đòi hỏi học trò phải tập luyện, phải hình thành nền nếp, thói quen học tập” và “học không biết chán, dạy không biết mỏi”. Quan điểm của ông muốn mang lại hiệu quả dạy học phải đề cao đến các quy định về nền nếp dạy học, nâng cao trình độ của người dạy để lựa chọn được những phương pháp dạy học theo hướng đề cao năng lực tự học, phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ và sáng tạo của người học. Từ cuối thế kỷ XIV vấn đề dạy học và quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh được nhiều nhà giáo dục quan tâm, nổi bật nhất trong thời kỳ đó là: Cômenxki (1592-1670), ông đã đưa ra quan điểm giáo dục phải thích ứng với tự nhiên, theo ông quá trình dạy học để truyền thụ và tiếp nhận tri thức là phải dựa vào sự vật, hiện tượng do học sinh tự quan sát, tự suy nghĩ mà hiểu biết, không nên dùng uy quyền bắt buộc, gò ép người ta chấp nhận bất kỳ một điều gì và ông đã nêu ra một số nguyên tắc dạy học có giá trị rất lớn đó là: Nguyên tắc trực quan; Nguyên tắc phát huy tính tự giác tích cực của học sinh; Nguyên tắc hệ thống và liên tục; Nguyên tắc củng cố kiến thức; Nguyên tắc giảng dạy theo khả năng tiếp thu của học sinh (vừa sức); Dạy học phải thiết thực; Dạy học theo nguyên tắc cá biệt… Vào khoảng cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX, khoa học giáo dục thực sự có 6 sự biến đổi về lượng và chất. Những vấn đề chủ yếu trong các tác phẩm kinh điển của Chủ nghĩa Mác – Lênin đã định hướng cho quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh là các quy luật về“Sự hình thành cá nhân con người” về “tính quy luật về kinh tế - xã hội đối với giáo dục…”.
Các quy luật đó đặt ra những yêu cầu đối với quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh và tính ưu việt của xã hội đối với việc tạo ra các phương tiện và điều kiện cần thiết cho giáo dục. Trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, nhiều nhà khoa học Xô Viết cũ đã có các thành tựu khoa học đáng trân trọng về quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh. Còn Socrate (469-390 TCN) - một trong những nhà triết học phương Tây, đã từng nêu khẩu hiệu “anh hãy tự biết lấy anh”, và đã đề xuất, thực hiện một PPDH mà người đời gọi là “Phương pháp Socrate”, đó chính là phương pháp đàm thoại trong dạy học đang được sử dụng cho đến ngày nay, trong đó người dạy chỉ giữ vai trò hướng dẫn, giúp đỡ, đưa ra vấn đề còn người học tự mình tìm ra tri thức, tìm ra hướng giải quyết. Đến thế kỉ XVI trở đi, có rất nhiều nhà nghiên cứu giáo dục đã đưa ra những tư tưởng tiến bộ như Monteque (1533-1592) - người Pháp đã được mệnh danh là ông tổ sư phạm của Châu Âu.
Ông sử dụng phương pháp giảng dạy bằng hoạt động, bằng quan sát trực tiếp, bằng sự tiếp xúc các sự vật trong đời sống hằng ngày. Muốn giảng dạy tốt “phải cho học sinh chạy trước mà nhận xét” chứ không bắt buộc trẻ em nhắm mắt hiểu theo những nhận định chủ quan của người thầy.Rousseau - Nhà triết học khai sáng Pháp (1717-1778) nhấn mạnh phương pháp GD với chủ trương GD trẻ em một cách tự nhiên và người học sẽ tự khám phá tích lũy kiến thức thông qua chính hoạt động của mình.Comenxki (1592-1670) - Nhà sư phạm vĩ đại người Slovaquia, đã phân tích các hiện tượng trong tự nhiên và hiện thực để đưa ra các biện pháp dạy học buộc HS phải tìm tòi, suy nghĩ để nắm bắt được bản chất của sự vật hiện tượng. Điều đó đòi hỏi người thầy phải dạy thế nào để cho HS thích thú trong việc học tập và phải có những cố gắng để nắm lấy tri thức. Ông thường tập cho HS tinh thần độc lập trong quan sát, trong đàm thoại và trong việc ứng dụng tri thức vào thực tiễn”, ông nhận định giáo dục có mục đích đánh thức năng lực nhạy cảm, phán đoán đúng đắn, phát triển nhân cách…, cần tìm ra phương pháp cho GV dạy ít hơn, HS được học nhiều hơn.
John Dewey (1859-1952) - người Mỹ, cũng có quan điểm và chủ trương như trên. Đó là phải dựa vào kinh nghiệm thực tế của trẻ em. Việc giảng dạy phải kích thích được hứng thú, phải để trẻ em độc lập tìm tòi, thầy giáo vừa là người thiết kế vừa là người cố vấn.F Kharlamop đã khẳng định: Quá trình nắm kiến thức mới không thể hình thành bằng cách học thuộc bình thường các quy tắc, các kết luận khái quát hóa, nó phải được xây dựng trên cơ sở của việc cải tiến công tác tự lập của HS, của việc phân tích tính logic sâu sắc tài liệu, sự kiện làm nền tảng cho việc hình thành các khái niệm khoa học. John Dewey (1859-1952) - người Mỹ, cũng có quan điểm trong giáo dục là phải dựa vào kinh nghiệm thực tế của học sinh.
Việc giảng dạy phải kích thích được hứng thú, phải để học sinh độc lập tìm tòi, thầy giáo vừa là người thiết kế vừa là người cố vấn. Singapore là một trong số các nước châu Á được công nhận là quốc gia có nền giáo dục tốt nhất toàn cầu. Hệ thống giáo dục đất nước này phát triển theo hướng linh hoạt, đa dạng, đảm bảo chất lượng giáo dục cao, đi theo những chiến lược, quyết sách hợp lý và hiệu quả trong vấn đề về giáo dục. Chương trình mới của Singapore được xây dựng theo định hướng phát triển năng lực tập trung vào 6 giá trị: tôn trọng, trách nhiệm, chính trực, chu đáo, kiên cường, hòa đồng.
Theo đó, giáo dục các cấp tập trung vào hoạt động ngoại khóa và chương trình học tập năng động, khẳng định là một “thành phần cốt lõi của toàn bộ trải nghiệm ở nhà trường”. Giáo dục gắn liền với thực tiễn, dạy cho người học những kiến thức, kỹ năng suốt đời, có thể áp dụng linh hoạt với những sự thay đổi của thời đại mới. Giáo dục giúp phát hiện và bồi dưỡng mỗi học sinh với những năng lực, sở thích, năng khiếu, hoàn cảnh đặc biệt có thể phát triển theo hướng phù hợp từ sớm. Các nghiên cứu ở trong nước Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI nêu rõ: “Đổi mới mạnh mẽ nội dung, chương trình, phương pháp dạy và học ở tất cả các cấp học, bậc học” [22].
Quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong nhà trường nhằm nâng cao chất lượng dạy học đã và đang được các nhà nghiên cứu trong nước quan tâm trong nhiều năm qua. Nhiều nhà khoa học Việt Nam thời kỳ hiện đại cũng đã có những công trình nghiên cứu về chân dung người cán bộ quản lý, quản lý hoạt động dạy học theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong nhà trường đã đạt được những thành tựu nhất định như: các nhà nghiên cứu, các tác giả như: Tác giả Lưu Hồng Uyên (2016) trong nghiên cứu của mình đã nhấn mạnh: Việc chủ động xây dựng kế hoạch quản lí dựa trên tình hình thực tế của mỗi trường sẽ tạo điều kiện đảm bảo cho thành công của kế hoạch. Bằng việc tuân thủ kế hoạch, công tác quản lí sẽ thuận lợi, ít gặp những tình huống khó khăn, giúp nâng cao năng lực của cán bộ quản lí trong nhà trường [41]. Trong nghiên cứu “Quản lí đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực 8 học sinh ở các trường THCS tiếp cận quản lí sự thay đổi” của tác giả Bùi Việt Phú - Lê Thị Hoàng Chinh (2015) đã nêu rõ yêu cầu đổi mới PPDH ở trường THCS trong giai đoạn hiện nay.
Đổi mới PPDH theo định hướng phát triển năng lực học sinh phải đồng bộ với đổi mới cách tổ chức, quản lí nội dung, chương trình dạy học, cách kiểm tra đánh giá kết quả học tập của HS để tối ưu hóa quá trình dạy học. Sử dụng phối hợp các PPDH theo định hướng phát triển năng lực học sinh trong quá trình đổi mới PPDH.