CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CÁC MÔN KHOA HỌC CƠ BẢN TẠI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC 1. Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Ngoài nước Trên thế giới đã có rất nhiều nhà khoa học nghiên cứu về QL, ở Phương Đông có Khổng Tử, Mạnh Tử, Hàn Phi Tử, còn ở Phương Tây lại có Xô-Crat, Platon, Fayol … Hoạt động QL đã mang lại những lợi ích vô cùng lớn trong mọi lĩnh vực của cuộc sống và thúc đẩy xã hội phát triển. Theo Khổng Tử (551-479 TCN) - vị thầy của muôn đời thì “học nhi ưu tắc sỹ” tức là học giỏi làm quan, còn việc học của Khổng Tử là “để ứng dụng”, ứng dụng vào việc QL đất nước, chính điều này cũng thể hiện rõ ở tư tưởng “chính sự” của ông.
Trong tư tưởng của Khổng Tử, ông nhấn mạnh “đức trị”, nhấn mạnh “lấy luân lý đạo đức để giáo hóa nhân dân”. Tư tưởng QL của ông đã được nhiều nhà QL, nhà lãnh đạo lớn ứng dụng hiệu quả. Theo Platon (427-348 TCN) Giáo dục giúp cho con người có lý trí. Giáo dục mẫu giáo theo cách của người mẹ.
Trẻ lớn có thể học ở trường và ngoài trời. Giáo dục có chọn lọc cho phù hợp với khả năng của từng người, ai giỏi thì được học lên mãi. Người giỏi nhất sẽ được chọn để đứng đầu nhà nước. Ông cho rằng người đứng đầu đất nước cần phải ham hiểu biết, thành thật, tự chủ, ít tham vọng về vật chất, biết vì dân và đặc biệt là phải biết đoàn kết toàn dân.
Đến thời kỳ cận đại, QL dần tách khỏi triết học và trở thành một khoa học độc lập. Thời kỳ này xuất hiện nhiều thuyết QL mới tương ứng với sự ra đời của xã hội công nghiệp như: - Theo thuyết hành chính của Henry Fayol (1841-1925) thì QL là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ có hoàn thành một cách tốt nhất và rẻ nhất. Theo ông, QL là sự dự đoán, lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển, phối hợp và kiểm tra. 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Thuyết tổ chức trong QL của Max Weber (1864-1920) và Chester Barnard (1886-1961), với mô hình tổ chức để QL các doanh nghiệp, trong đó yếu tố chính là sự phân công, sắp xếp rõ từng vị trí, lựa chọn nhân lực nghiêm ngặt, chế độ lương thưởng và đề bạt hợp lý.
- Thuyết hành vi trong QL có đại diện là Herbert A.Simon (1916- 2001) và Douglas Murray McGregor (1906 -1964) với sự vận dụng khoa học tâm lý vào QL. Ngoài ra trong thời kỳ hiện đại, cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội có nhiều thuyết QL mới ra đời trên cơ sở kế thừa những tư tưởng QL của thời kỳ trước như: Thuyết văn hóa QL của William Ouchi; thuyết QL tổng hợp và thích nghi của Peter Drucker… 1. Trong nước Ở Việt Nam, tư tưởng QL cũng đã xuất hiện từ lâu và các tư tưởng đó thay đổi theo từng thời kỳ. Tư tưởng thời Tiền Lê hướng vào pháp trị; Tư tưởng thời nhà Lý hướng vào đức trị; Còn tư tưởng thời Hậu Lê thì hướng vào đức trị và pháp trị … Sau khi đất nước thống nhất, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, nước ta có Hiến pháp năm 1992, Luật Giáo dục 1998, Luật Giáo dục 2005, Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 và Chiến lược phát triển giáo dục Việt Nam 2011-2020, nhằm đưa ra những đường lối, phương hướng chỉ đạo, QL về giáo dục và phát triển giáo dục.
Cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại đã và đang tiếp tục phát triển với những bước nhảy vọt mang tính đột phá trong thế kỷ 21, khoa học – công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp có tác động tới tất cả các lĩnh vực trong đó có QL, làm biến đổi nhanh chóng và sâu sắc đời sống, tinh thần của xã hội, thông tin, trí thức trở thành nguồn lực chủ yếu cho phát triển và lợi thế cạnh tranh của các nước. Toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế đã và đang là một xu thế phát triển khách quan trong đó vừa diễn ra quá trình cạnh tranh gay gắt giữa các nước vừa thúc đẩy sự phát triển của mỗi nước. 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Việt Nam ngày nay, với sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước trong xu thế toàn cầu hóa, mặt khác năm 2006, Việt Nam gia nhập WTO là một bước đi quan trọng của đất nước trong quá trình hội nhập với nền kinh tế thế giới. Nền kinh tế xã hội hơn bao giờ hết cần đến nguồn lực con người.
Nguồn nhân lực này phải trải qua quá trình đào tạo của nền giáo dục hiện đại có chất lượng. Do đó, càng cần thiết phải vận dụng những thành tựu khoa học kỹ thuật về khoa học QL nói chung, QLGD nói riêng vào công cuộc xây dựng và phát triển nền giáo dục nước nhà. Gần đây ở nước ta đã có rất nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học và GV viết về lĩnh vực QL. Các công trình nghiên cứu, giáo trình, sách tham khảo … của các tác giả như: Nguyễn Quốc Chí, Phạm Minh Hạc, Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Nguyễn Ngọc Quang, Phạm Viết Vượng… đã nêu lên một số vấn đề về lý luận về QLGD, kinh nghiệm QLGD từ thực tế giáo dục Việt Nam và thế giới nhằm nâng cao chất lượng GD&ĐT.
QL hoạt động dạy học là một vấn đề đã được nghiên cứu từ lâu và rất nhiều nhưng đối mỗi cơ sở đào tạo thì luôn là vấn đề bức xúc nhất và vẫn được tiếp tục nghiên cứu nhằm đưa ra đưa ra những bức tranh tổng thể cho việc QL chất lượng dạy học. Bên cạnh đó chúng ta có thể kể đến hàng loạt các luận văn thạc sĩ ngành QLGD nghiên cứu về vấn đề QL dạy học như: Đề tài “Một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng giảng dạy khoa học Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Đình Tiến Trường Cao đẳng Kỹ thuật Y Tế I – Bộ Y Tế năm 2005; Đề tài: “Biện pháp quản lý hoạt động giảng dạy của giảng viên thỉnh giảng tại Trường Cao đẳng du lịch Hà Nội” của tác giả Nguyễn Hữu Luyến; Đề tài “Quản lý dạy học ngoại ngữ tại Khoa ngoại ngữ - Trường Đại học Dân lập Văn Lang” của Lâm Hữu Tài… Các luận văn nghiên cứu tương đối đầy đủ thực trạng chương trình đào tạo, QL hoạt động dạy của GV và hoạt động học của học sinh, SV để đưa ra những giải pháp hợp lý, hiệu quả cho việc QL dạy học ở trường đại học. 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Từ tình hình trong và ngoài nước về vấn đề nghiên cứu, chúng ta có thể thấy QL hoạt động dạy học ở các trường đại học nói riêng và các cơ sở đào tạo nói chung là vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến kết quả đào tạo. Muốn có hoạt động dạy học hiệu quả, trước tiên phải QL tốt.
Vận dụng các kiến thức đã tiếp thu trong quá trình học chuyên ngành QLGD và của những quan điểm, cách làm trước đó, đối chiếu với thực tiễn, tác giả tiếp tục nghiên cứu thực trạng QL dạy học các môn KHCB tại trường ĐHHB để đưa ra một số biện pháp phát huy hiệu quả hoạt động dạy học tại Trường mình. Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý và các chức năng cơ bản của quản lý 1. Quản lý QL là một hoạt động quan trọng nhất trong các hoạt động của con người.
QL đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn. Nghiên cứu về QL giúp con người có được những kiến thức cơ bản nhất, chung nhất với hoạt động QL. Có nhiều khái niệm về QL. Trong mỗi cách định nghĩa về QL đều đề cập tới các yếu tố cơ bản sau: Chủ thể QL; khách thể QL, mục tiêu QL, ngoài ra còn phải kể tới cách thức (phương pháp QL) và công cụ (hệ thống văn bản qui phạm pháp luật) QL.
Các cách định nghĩa khác nhau nhưng bản chất của QL là quá trình tác động có mục đích, kế hoạch và tổ chức đối với các nguồn lực nhằm đạt tới mục tiêu đã xác định. Khái niệm QL của các tác giả nước ngoài: Theo K.Marx: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng ” [5, tr.W Taylor thì QL là biết chính xác điều muốn người khác làm, sau đó thấy họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất. 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Harold Koontz, Cyril O’donnell, Heinz Weihrich khẳng định: “Quản lý là hoạt động đảm bảo sự phối hợp giữa nỗ lực các cá nhân nhằm đảm bảo mục tiêu quản lý trong điều kiện chi phí thời gian, công sức, tài lực, vật lực ít nhất đạt được kết quả cao nhất” [15, tr.
Theo các tác giả Paul Hersey và Ken Blanc Hard lại cho rằng: “Quản lý như là quá trình làm việc cùng và thông qua các cá nhân, các nhóm cũng như các nguồn lực khác để hình thành các mục đích tổ chức ” [23, tr. Khái niệm QL của các tác giả trong nước: Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “QL là sự tác động có mục đích tới tập thể những người lao động nhằm đạt được những kết quả nhất định và mục đích đã định trước” [25, tr. Theo tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì: “Quản lý là quá trình đạt tới mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [18, tr. Từ những định nghĩa trên, có thể hiểu một cách khái quát về QL như: QL là một quá trình tác động có tổ chức, có hướng đích, có ý thức, hợp quy luật của chủ thể QL tới đối tượng QL nhằm đạt mục tiêu đề ra.
QL chính là một quá trình hoạt động liên tục và cần thiết khi con người kết hợp với nhau trong một tổ chức. Đó là quá trình tạo nên sức mạnh gắn liền các hoạt động của các cá nhân với nhau trong một tổ chức nhằm đạt được mục tiêu chung. Khi xem xét khái niệm QL cần chú ý các điểm sau: - QL là những tác động có mục đích lên những tập thể, tổ chức.