Luận văn: Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp tại huyện Phù Mỹ, Bình Định

Luận văn thạc sĩ phân tích thực trạng quản lý nhà nước về đất nông nghiệp tại huyện Phù Mỹ, Bình Định và đề xuất các giải pháp hoàn thiện.

Trường đại học

Học Viện Khoa Học Xã Hội

Chuyên ngành

Luật Học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sĩ

2021

89
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Toàn cảnh công tác quản lý đất nông nghiệp Phù Mỹ hiện nay

Huyện Phù Mỹ, một huyện đồng bằng ven biển phía Đông Bắc tỉnh Bình Định, sở hữu vị trí địa lý chiến lược và tiềm năng to lớn cho phát triển nông nghiệp. Với tổng diện tích tự nhiên 55.592,5 ha, trong đó đất nông nghiệp chiếm 44.217,5 ha, công tác quản lý đất nông nghiệp Phù Mỹ đóng vai trò xương sống cho sự ổn định và tăng trưởng kinh tế - xã hội của địa phương. Đất đai không chỉ là tư liệu sản xuất không thể thay thế mà còn là nền tảng đảm bảo an ninh lương thực và sinh kế cho phần lớn người dân. Trong giai đoạn 2014-2020, thực tiễn quản lý đất đai tại huyện đã có những chuyển biến tích cực, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa và phát triển công nghiệp cũng đặt ra nhiều thách thức, đòi hỏi một phương pháp quản lý khoa học, minh bạch và bền vững. Việc đánh giá đúng thực trạng sử dụng đất nông nghiệp và đề ra các giải pháp phù hợp là nhiệm vụ cấp thiết. Theo luận văn của tác giả Đặng Đình Kha (2021), việc nâng cao hiệu quả sử dụng đất là yếu tố quyết định, giúp địa phương khai thác tối đa lợi thế tự nhiên, đồng thời giải quyết các vấn đề tồn đọng như tranh chấp, quy hoạch chồng chéo. Một hệ thống quản lý hiệu quả sẽ tạo đà cho việc áp dụng nông nghiệp công nghệ cao Phù Mỹ, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, và nâng cao thu nhập cho người nông dân, hướng tới một nền nông nghiệp hiện đại, có sức cạnh tranh cao.

1.1. Vai trò chiến lược của đất nông nghiệp tại huyện Phù Mỹ

Đất nông nghiệp là tài sản quốc gia và là tư liệu sản xuất đặc biệt, đóng vai trò nền tảng cho sự phát triển của huyện Phù Mỹ. Theo báo cáo tổng kết của UBND huyện, ngành nông - lâm - thủy sản chiếm 38,16% trong cơ cấu kinh tế năm 2017, cho thấy sự phụ thuộc lớn của kinh tế địa phương vào hoạt động sản xuất nông nghiệp. Việc quản lý hiệu quả nguồn tài nguyên này không chỉ đảm bảo an ninh lương thực mà còn trực tiếp cải thiện đời sống người dân, với thu nhập bình quân đầu người tăng từ 11,61 triệu đồng (2008) lên 35,89 triệu đồng (2017). Do đó, các chính sách đất đai nông nghiệp cần được xây dựng một cách cẩn trọng để vừa khuyến khích sản xuất, vừa bảo vệ quỹ đất trước áp lực từ các dự án phi nông nghiệp.

1.2. Phân tích biến động quỹ đất nông nghiệp trong giai đoạn qua

Giai đoạn 2014-2020 chứng kiến sự biến động mạnh mẽ của quỹ đất nông nghiệp tại Phù Mỹ. Mặc dù tổng diện tích đất nông nghiệp có xu hướng tăng do chuyển đổi từ đất đồi núi chưa sử dụng sang đất lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản, nhưng diện tích đất trồng lúa và cây hàng năm lại giảm đáng kể, khoảng 846,19 ha. Nguyên nhân chính là do việc chuyển đổi mục đích sử dụng đất để phục vụ các dự án phát triển cơ sở hạ tầng trọng điểm như mở rộng Quốc lộ 1A và xây dựng các cụm công nghiệp. Sự thay đổi này đặt ra bài toán cân bằng giữa phát triển kinh tế và bảo vệ quỹ đất sản xuất nông nghiệp cốt lõi, đòi hỏi công tác quản lý phải linh hoạt và có tầm nhìn xa.

II. Thách thức lớn trong quản lý đất nông nghiệp tại Phù Mỹ

Bên cạnh những kết quả đạt được, công tác quản lý đất nông nghiệp Phù Mỹ vẫn đối mặt với nhiều khó khăn và hạn chế sâu sắc. Một trong những thách thức lớn nhất đến từ hệ thống quy hoạch. Quy hoạch sử dụng đất huyện Phù Mỹ còn thiếu tính đồng bộ, thường xuyên bị điều chỉnh và chưa thực sự trở thành công cụ định hướng phát triển dài hạn. Sự thiếu liên kết giữa quy hoạch đất đai với quy hoạch xây dựng, giao thông đã dẫn đến tình trạng sử dụng đất manh mún, lãng phí. Nhiều dự án treo khiến đất nông nghiệp bị bỏ hoang, gây bức xúc trong nhân dân. Thêm vào đó, thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai còn rườm rà, phức tạp. Quy trình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giải quyết các biến động đất đai còn chậm, tạo kẽ hở cho tiêu cực và gây phiền hà cho người dân. Tình trạng tranh chấp đất đai nông nghiệp diễn ra khá phổ biến, đặc biệt liên quan đến đền bù, giải phóng mặt bằng. Theo số liệu từ luận văn nghiên cứu, giai đoạn 2014-2020, toàn huyện đã tiếp nhận và xử lý 1.327 vụ việc khiếu nại, tố cáo. Việc giải quyết các tranh chấp này đôi khi còn kéo dài, chưa triệt để, ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Năng lực của một bộ phận cán bộ địa chính cấp xã còn hạn chế và việc ứng dụng công nghệ thông tin vào quản lý còn chậm cũng là những rào cản lớn.

2.1. Thực trạng chồng chéo trong quy hoạch sử dụng đất nông nghiệp

Một trong những bất cập lớn nhất được chỉ ra là sự thiếu thống nhất giữa quy hoạch sử dụng đất huyện Phù Mỹ với các quy hoạch chuyên ngành khác. Tình trạng quy hoạch chỉ mang tính tổng hợp nhu cầu ngắn hạn, cục bộ thay vì định hướng chiến lược dài hạn đã làm giảm chất lượng và tính khả thi. Điều này dẫn đến việc nhiều diện tích đất nông nghiệp nằm trong quy hoạch nhưng dự án không được triển khai, gây lãng phí tài nguyên và khó khăn cho người dân trong việc canh tác, sản xuất ổn định.

2.2. Vấn nạn tranh chấp đất đai nông nghiệp và khiếu nại kéo dài

Vấn đề tranh chấp đất đai nông nghiệp là một điểm nóng tại Phù Mỹ. Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ lịch sử quản lý đất đai phức tạp, hồ sơ địa chính chưa hoàn thiện và đặc biệt là các mâu thuẫn trong chính sách bồi thường khi nhà nước thu hồi đất. Việc một số chính quyền cơ sở còn đùn đẩy trách nhiệm, công tác hòa giải tại xã mang tính hình thức đã khiến nhiều vụ việc trở nên phức tạp, gây ra tình trạng khiếu kiện vượt cấp, ảnh hưởng không nhỏ đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương.

2.3. Hạn chế về nguồn nhân lực và ứng dụng công nghệ số

Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý đất đai, đặc biệt ở cấp xã, chưa đồng đều. Việc thiếu hụt cán bộ được đào tạo bài bản và am hiểu sâu về pháp luật đất đai ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng giải quyết công việc. Bên cạnh đó, việc ứng dụng công nghệ thông tin còn hạn chế. Huyện chưa xây dựng được một hệ thống thông tin đất đai dạng số, đồng bộ. Công tác lưu trữ hồ sơ, chỉnh lý biến động vẫn còn thủ công, gây khó khăn cho việc tra cứu, quản lý và khai thác thông tin, làm chậm quá trình hiện đại hóa quản lý đất đai.

III. Phương pháp hoàn thiện quy hoạch quản lý đất Phù Mỹ

Để giải quyết những thách thức đang tồn tại, việc hoàn thiện công tác quy hoạch và các chính sách đất đai nông nghiệp là giải pháp nền tảng. Trước hết, cần nâng cao chất lượng lập quy hoạch sử dụng đất huyện Phù Mỹ theo hướng tích hợp và có tầm nhìn dài hạn. Quy hoạch phải được xây dựng dựa trên cơ sở khoa học, đánh giá đầy đủ tiềm năng, lợi thế về thổ nhưỡng, khí hậu cũng như các yếu tố kinh tế - xã hội. Quá trình lập quy hoạch cần đảm bảo tính dân chủ, công khai, lấy ý kiến rộng rãi từ cộng đồng dân cư và doanh nghiệp để đảm bảo tính thực tiễn và sự đồng thuận cao. Song song đó, Sở Tài nguyên và Môi trường Bình Định cần phối hợp chặt chẽ với chính quyền huyện để rà soát, điều chỉnh các quy hoạch chồng chéo, không khả thi. Một giải pháp quan trọng khác là cải cách thể chế, chính sách. Cần có cơ chế rõ ràng để khuyến khích tích tụ ruộng đất, tạo điều kiện cho sản xuất hàng hóa quy mô lớn. Các quy định về chuyển đổi mục đích sử dụng đất cần được quản lý chặt chẽ hơn, chỉ cho phép chuyển đổi những diện tích đất kém hiệu quả, ưu tiên bảo vệ nghiêm ngặt đất trồng lúa và đất nông nghiệp có năng suất cao. Đồng thời, cần xây dựng bộ tiêu chí rõ ràng để đánh giá hiệu quả sử dụng đất, làm cơ sở cho việc giao đất, cho thuê đất và thu hồi đất đối với các dự án chậm triển khai, sử dụng sai mục đích.

3.1. Nâng cao chất lượng lập và thực thi quy hoạch sử dụng đất

Chất lượng quy hoạch là chìa khóa. Quy hoạch cần thoát khỏi tư duy nhiệm kỳ và phải định hướng cho sự phát triển bền vững trong 10-20 năm tới. Việc ứng dụng công nghệ GIS và viễn thám trong khảo sát, lập bản đồ sẽ giúp nâng cao tính chính xác. Quan trọng hơn, cần tăng cường công tác giám sát việc thực hiện quy hoạch, xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, xây dựng trái phép, sử dụng đất sai mục đích đã được phê duyệt, đảm bảo kỷ cương trong quản lý đất đai.

3.2. Cải cách chính sách đất đai khuyến khích sản xuất lớn

Các chính sách đất đai nông nghiệp cần được đổi mới để phù hợp với kinh tế thị trường. Cần có chính sách cụ thể về dồn điền đổi thửatích tụ ruộng đất thông qua cho thuê, góp vốn bằng quyền sử dụng đất. Nhà nước có thể đóng vai trò trung gian, hỗ trợ pháp lý và tín dụng cho các cá nhân, tổ chức có năng lực để hình thành các vùng sản xuất chuyên canh, quy mô lớn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng khoa học kỹ thuật và xây dựng thương hiệu nông sản địa phương.

IV. Bí quyết nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp Phù Mỹ

Để tối ưu hóa giá trị từ tài nguyên đất, việc áp dụng đồng bộ các giải pháp thực tiễn nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng đất là yêu cầu bắt buộc. Một trong những giải pháp trọng tâm là đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất. Phát triển nông nghiệp công nghệ cao Phù Mỹ không chỉ giúp tăng năng suất, chất lượng sản phẩm mà còn góp phần sử dụng tài nguyên một cách bền vững, giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường như thoái hóa đất hay xâm nhập mặn. Việc xây dựng các mô hình sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP, GlobalGAP cần được nhân rộng. Bên cạnh công nghệ, yếu tố con người giữ vai trò quyết định. Cần tổ chức các chương trình đào tạo, tập huấn thường xuyên để nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ quản lý từ huyện đến xã. Đặc biệt, cán bộ địa chính phải nắm vững pháp luật, có kỹ năng nghiệp vụ và thái độ phục vụ chuyên nghiệp. Công tác cải cách thủ tục hành chính phải được thực hiện quyết liệt. Việc đơn giản hóa quy trình, công khai, minh bạch mọi thủ tục, đặc biệt là trong cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và giải quyết tranh chấp, sẽ giúp giảm chi phí, thời gian cho người dân và doanh nghiệp, đồng thời ngăn chặn tiêu cực. Cuối cùng, cần xây dựng một hệ thống cơ sở dữ liệu đất đai số hóa, hiện đại, liên thông giữa các cấp để phục vụ công tác quản lý, tra cứu và hoạch định chính sách một cách nhanh chóng, chính xác.

4.1. Đẩy mạnh áp dụng nông nghiệp công nghệ cao và sản xuất sạch

Huyện cần có chính sách thu hút đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao Phù Mỹ. Các mô hình như nhà kính, nhà lưới, hệ thống tưới tiêu thông minh, sử dụng giống cây trồng, vật nuôi có năng suất cao cần được ưu tiên phát triển. Điều này không chỉ nâng cao giá trị trên một đơn vị diện tích mà còn giúp nông sản Phù Mỹ đáp ứng được các tiêu chuẩn khắt khe của thị trường, tăng khả năng cạnh tranh và xuất khẩu. Đây là hướng đi tất yếu để hiện đại hóa nông nghiệp địa phương.

4.2. Số hóa hệ thống hồ sơ địa chính và minh bạch thông tin

Xây dựng cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia chi nhánh tại huyện là mục tiêu cấp bách. Việc số hóa toàn bộ hồ sơ, bản đồ địa chính sẽ giúp công tác quản lý trở nên khoa học, chính xác. Mọi thông tin về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, tình trạng pháp lý của thửa đất cần được công khai trên cổng thông tin điện tử để người dân và doanh nghiệp có thể dễ dàng truy cập. Sự minh bạch này là nền tảng để giảm thiểu tranh chấp đất đai nông nghiệp và xây dựng một thị trường quyền sử dụng đất lành mạnh.

4.3. Nâng cao năng lực giải quyết tranh chấp khiếu nại tại cơ sở

Tăng cường hiệu quả của tổ hòa giải ở cơ sở là giải pháp then chốt để giải quyết mâu thuẫn từ sớm, từ xa. Cần nâng cao năng lực chuyên môn, kỹ năng hòa giải cho các thành viên hội đồng hòa giải cấp xã. Đồng thời, cần quy định rõ ràng trách nhiệm của UBND cấp xã trong việc giải quyết tranh chấp, tránh tình trạng đùn đẩy. Việc giải quyết các vụ việc phải đảm bảo thấu tình, đạt lý, dựa trên các quy định của pháp luật và phù hợp với thực tiễn địa phương, góp phần ổn định xã hội.

04/10/2025
Luận văn thạc sỹ quản lý nhà nước về đất nông nghiệp từ thực tiễn huyện phù mỹ tỉnh bình định

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐẤT NÔNG NGHIỆP 1. Khái niệm quản lý nhà nước về đất nông nghiệp 1. Khái niệm đất nông nghiệp Luật đất đai năm 1993 ghi nhận: “Đất đai là tài nguyên quốc gia vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là thành phần quan trọng hàng đầu của môi trường sống, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng các công tình kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng” [41]. Theo Từ điển tiếng Việt (1988), nông nghiệp là ngành sản xuất vật chất cơ bản của xã hội, cung cấp sản phẩm trồng trọt và sản phẩm chăn nuôi [74, tr.

Đất nông nghiệp đôi khi còn gọi là đất canh tác hay đất trồng trọt là những vùng đất, khu vực thích hợp cho sản xuất, canh tác nông nghiệp, bao gồm cả trồng trọt và chăn nuôi. Đây là một trong những nguồn lực chính trong nông nghiệp. Theo Luật Đất đai năm 1993, “Đất nông nghiệp là đất được xác định chủ yếu để sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản hoặc nghiên cứu thí nghiệm về nông nghiệp” [41]. Cách hiểu về đất nông nghiệp như trên chỉ theo nghĩa hẹp.

Do đó, Luật Đất đai năm 2003, đã không sử dụng khái niệm đất nông nghiệp của Luật ĐĐ năm 1993 nữa mà thay bằng thuật ngữ “nhóm đất nông nghiệp”, theo đó đất đai được phân thành 3 nhóm là: nhóm đất nông nghiệp; nhóm đất phi nông nghiệp và nhóm đất chưa sử dụng. Tiếp đó, Luật Đất đai năm 2013 ra đời đã kế thừa và tiếp nhận cách thức phân loại nhóm đất nông nghiệp theo Luật Đất đai năm 2003, đồng thời đã quy định cụ thể các loại “đất nông nghiệp khác”. Sự phân loại theo Luật Đất đai năm 2013 là phù hợp. Một mặt, đảm 8 bảo được thống nhất trong quản lý đất đai của Nhà nước ta, giúp cho các cơ quan quản lí đất đai ở địa phương thuận lợi hơn trong việc kiểm tra, theo dõi, giám sát quá trình khai thác, sử dụng đất của hộ gia đình, cá nhân.

Mặt khác qua quá trình từ thực tế sử dụng đất nông nghiệp của các hộ gia đình, cá nhân từ xưa đến nay thì họ thường không sử dụng thuần túy một loại đất riêng rẽ như: đất trồng lúa, trồng màu mà đó là sự đan xen của việc kết hợp khai thác và sử dụng của nhiều loại đất khác nhau như: đất trồng lúa, trồng màu, trồng cây ăn quả, đất nuôi trồng thủy sản hoặc kết hợp với trồng rừng sản xuất, đất làm muối… vấn đề tận dụng và kết hợp sử dụng nhiều loại đất như vậy là một nhu cầu tất yếu khách quan của mỗi hộ gia đình, cá nhân nhằm mục đích chính trong suy nghĩ của họ là muốn nâng cao năng lực sản xuất, tận dụng quỹ đất và thời gian để khai thác hiệu quả đất đai, có điều kiện để mở rộng sản xuất và nghiên cứu ứng dụng các biện pháp tiến bộ khoa học kỹ thuật, đầu tư vốn thuận lợi, dễ dàng trong sản xuất… phải nói rằng đây cũng là sự phù hợp với chủ trương mà Đảng và Nhà nước ta đang khuyến khích nông dân sản xuất nông nghiệp theo mô hình nông trang trại, kết hợp giữa nông, lâm, ngư, diêm nghiệp đối với hộ nông dân. Việc phân loại đất nông nghiệp theo quy định pháp luật đất đai hiện hành là một sự phân loại hợp lí, thuận lợi cho việc quản lí, phù hợp với thực tế sử dụng đất của các hộ nông dân và vừa khuyến khích được hộ gia đình, cá nhân để phát triển nông nghiệp theo xu hướng của nền sản xuất hiện nay. Qua nghiên cứu và từ các vấn đề phân tích trên, ta có thể đưa ra khái niệm về đất nông nghiệp như sau: Đất nông nghiệp là một phần trong tổng diện tích đất tự nhiên của mỗi địa phương, mỗi quốc gia, có đặc tính sử dụng giống nhau bao gồm tổng thể các loại đất, với tư cách là tư liệu sản xuất sử dụng cho mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp như trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản, khoanh nuôi tái sinh, bảo vệ môi rường sinh thái; nghiên cứu, thực hành, thí nghiệm về nông, lâm,diêm nghiệp. Đặc điểm đất nông nghiệp Đất nông nghiệp có những đặc điểm chung của đất như: mỗi thửa đất ứng với vị trí duy nhất trên vỏ trái đất, gắn với địa hình, nền khí hậu,tài nguyên và các công trình nhân tạo chung cho cả vùng hoặc tiểu vùng nhất định; về dài hạn cung đất là cố định trong khi cầu về đất thì không ngừng tăng lên, đi đôi với sự hiện diện nhiều hơn các công trình trên đất làm tăng tính năng của nó nên giá đất có xu hướng tăng; chất đất, bề mặt đất có thể thay đổi dưới tác động của tự nhiên, nhân tạo… Ngoài ra, đất nông nghiệp còn có những đặc điểm riêng cơ bản sau đây: Thứ nhất, đất nông nghiệp phải đáp ứng một số điều kiện nhất định về thổ nhưỡng, địa hình, hệ thống nước.

Mỗi loại đất nông nghiệp đòi hỏi các điều kiện khác nhau về thổ nhưỡng, nền khí hậu, các công trình phụ trợ,… đất trồng trọt đòi hỏi các điều kiện về chất đất, nền khí hậu, hệ thống tưới tiêu phù hợp với từng loại cây trồng; đất chăn nuôi gia súc đòi hỏi điều kiện quy mô diện tích đồng cỏ, hồ chứa nước… Đất mặt nước để nuôi trồng thủy sản hay đất làm muối đòi hỏi điều kiện về diện tích, về chất nước…Đặc điểm này của đất nông nghiệp cho thấy, không phải diện tích đất nào cũng có thể cải tạo để trở thành đất sản xuất nông nghiệp. Chính vì thế, các quốc gia đều phải có chính sách bảo vệ diện tích đất nông nghiệp tối thiểu, nhất là diện tích đất sản xuất đảm bảo an ninh lương thực. Đất nông nghiệp thường chiếm tỷ trọng lớn trong tổng diện tích đất tự nhiên, xã hội càng phát triển số người làm nông nghiệp và đống góp của nông nghiệp vào GDP càng giảm. diện tích đất nông nghiệp có thể giảm nhưng vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng diện tích tự nhiên.

Do đất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn trong tổng diện tích đất tự nhiên , trong khi đất là nguồn tài nguyên hữu hạn, nên việc sử dụng hiệu quả đất nông nghiệp tạo điều kiện chuyển một phần đất nông nghiệp sang sử dụng vào mục đích khác. Một trong những 10 phương thức sử dụng tiết kiệm đất nông nghiệp là thâm canh, tăng vụ, áp dụng công nghệ sinh học sản xuất nông nghiệp có giá trị cao trên một diện tích đất xác định. Đối với đất nông nghiệp, do sử dụng làm tư liệu sản xuất nên giá trị của đất này phụ thuộc vào các yếu tố thổ nhưỡng độ phì nhiêu, tầng dày của đất mặt, độ dốc, độ PH (độ chua) v.v… Độ phì hay độ màu mỡ là một thuộc tính tự nhiên của đất nông nghiệp và là yếu tố quyết định chất lượng của đất, đó là đặc trưng của đất nông nghiệp, thể hiện khả năng cung cấp dinh dưỡng cho cây trồng trong quá trình sinh trưởng và phát triển. Thứ hai, đất nông nghiệp là tư liệu sản xuất chủ yếu trong nông nghiệp.

Đất đai giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp bởi hiện nay loài người chưa có loại tư liệu sản xuất nào có thể thay thế ruộng đất trên quy mô rộng lớn đối với sinh vật, đất đai không chỉ là môi trường sống mà còn là nguồn cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng. Tuy nhiên, trong thực tế sử dụng đất của các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình, có những loại đất mà khởi nguồn được sử dụng mục đích chính là sản xuất nông nghiệp như: trồng trọt, chăn nuôi gia súc gia cầm, nuôi trồng thủy sản, nhưng do nhu cầu riêng của mỗi cá nhân muốn thay đổi mục đích sử dụng đất nông nghiệp nhằm để nâng cao hiệu quả sử dụng đất hoặc vì mục đích lợi ích khác có giá trị cao hơn so với mục đích sử dụng đất nông nghiệp nên các chủ thể đã tự ý làm thay đổi mục đích sử dụng so với ban đầu và diện tích đất nông nghiệp đó đã trở thành đất phi nông nghiệp. Sự thay đổi mục đích sử dụng đó có thể Nhà nước kiểm soát được và cho phép nếu phù hợp với quy hoạch chung của địa phương, tuy nhiên cũng có trường hợp Nhà nước không kiểm soát được việc cá nhân tự ý chuyển mục đích sử dụng đó, từ đó dẫn đến tình trạng sử dụng đất không đúng mục đích giữa thực tế và trên hồ sơ 1. Quản lý nhà nước về đất nông nghiệp Quản lý nhà nước là thuật ngữ chỉ “sự tác động của các chủ thể mang 11 tính quyền lực nhà nước, bằng nhiều biện pháp, tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện những chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước trên cơ sở các quy luật phát triển xã hội, nhằm mục đích ổn định và phát triển đất nước” [61].

Trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, Nhà nước bằng quyền lực của bộ máy nhà nước duy trì tác động có mục đích và có định hướng lên đối tượng quản lý đất đai cả về mặt quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước về đất đai và cả việc sử dụng đất đai của các chủ thể sử dụng đất. Tại Điều 5 của Luật đất đai năm 2003 khẳng định “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu” [41a]. Đến Luật đất đai năm 2013 thì lại khẳng định thêm một lần nữa: “Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho người sử dụng đất theo quy định của Luật đất đai năm 2013 [41b].

Như vậy, quản lý nhà nước về đất đai ở Việt Nam có những nét khác biệt so với nhiều nước trên thế giới ở điểm: đất đai thuộc sở hữu toàn dân, có nghĩa là quản lý nhà nước về đất đai phải thể hiện được vai trò làm chủ của người dân thông qua các hoạt động mang tính đại diện của Nhà nước đối với các hoạt động như kiểm tra giám sát việc quản lý, sử dụng đất đai nhằm đem lại hiệu quả lớn nhất cho người dân, cho cộng đồng, cho xã hội. Nhà nước thông qua các cơ quan là chính quyền địa phương các cấp, các bộ ngành ở trung ương và ở địa phương thực hiện quyền đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai tại địa bàn theo quy định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ