CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC DỰA TRÊN CÔNG NGHỆ THÔNG TIN VÀ TRUYỀN THÔNG 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Những tiến bộ của khoa học và công nghệ đã tạo ra các biến đổi xã hội một cách sâu sắc và toàn diện. Giáo dục và đào tạo không nằm ngoài tác động đó. CNTT&TT đã làm thay đổi khá nhiều cách thức QLGD và đào tạo.
Với những lợi ích, tầm quan trọng do CNTT&TT đem lại, đã có nhiều tác giả và các tổ chức nước ngoài, trong nước tìm hiểu, nghiên cứu vấn đề này. Ở nước ngoài Tác giả Victoria L.Tinio đã xuất bản tài liệu “Công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục” [80] nhằm giúp các nhà QLGD hoạch định chính sách giáo dục ở các nước đang phát triển, xác định các phương hướng cho việc sử dụng CNTT&TT một cách hiệu quả và phù hợp với thực tiễn trong hệ thống giáo dục của quốc gia, được khái quát ở hai vấn đề cơ bản sau: - Thứ nhất: Lĩnh hội được những ích lợi tiềm năng của việc sử dụng CNTT&TT trong giáo dục và cách ứng dụng CNTT&TT đã được sử dụng trong giáo dục từ trước đến nay. - Thứ hai: Có bốn vấn đề cơ bản trong việc sử dụng CNTT&TT trong giáo dục là: Tính hiệu quả, chi phí, sự hợp lý và tính ổn định. Peter Van Gils tác giả của cuốn “Công nghệ thông tin trong giáo dục”, đã viết: “Những ứng dụng của CNTT có thể cung cấp cho các nhà trường cơ hội được tối ưu hóa toàn bộ hoạt động của mình.
Một nhà trường thường xuyên ứng dụng CNTT thì chính nhà trường đó đang tiếp cận với cách giải quyết các công việc hành chính và các hoạt động phát sinh một cách chuyên nghiệp hơn” [63]. Trong công trình này, ông đã nhấn mạnh và khẳng định những giá trị của CNTT trong một xã hội phát triển và cách thức tổ chức quản lý, giảng dạy, học tập cũng như ứng dụng CNTT trong tất cả các trường học từ mầm non, 15 tiểu học, trung học đến các trường dạy nghề, trường đại học. Theo ông, những lý do đưa CNTT vào trong giáo dục không phải là một hình thức đổi mới riêng rẽ mà chính là một phần trong sự phát triển của xã hội hiện nay. Vì vậy, CNTT là một công cụ không thể thiếu được trong công tác hành chính của giáo dục, nó mang lại sự trợ giúp to lớn cho các nhà QLGD.
Nhóm tác giả người Ấn Độ Sharmila Devi, Mohammad Rizwaan, Subhash Chander Ấn Độ, trong bài viết “Công nghệ thông tin và truyền thông cho chất lượng giáo dục ở Ấn Độ” [112] đã trình bày rất thuyết phục các nội dung sau: - Ứng dụng CNTT&TT để nâng cao chất lượng giáo dục chính quy và không chính quy: CNTT&TT đang trở thành một trong những thành phần không thể thiếu của văn hóa đương đại ở trong tất cả các cấp giáo dục ở Ấn Độ; Tiếp cận với CNTT&TT trong giai đoạn đầu của nền giáo dục sẽ giúp thế hệ trẻ đối diện với những gì ở phía trước. Chính phủ Ấn Độ đã công bố từ năm 2010-2020 là thập kỷ của sự đổi mới dựa trên CNTT&TT. Ở Ấn Độ thư viện lưu trữ dữ liệu, là nơi các nguồn thông tin, tài nguyên kỹ thuật số được lưu trữ, cấu trúc thành hệ thống cho giảng viên, sinh viên để tìm kiếm và sử dụng các tài liệu học tập, giảng dạy ở bất kỳ lĩnh vực nào được dựa trên hệ thống CNTT&TT. Các chương trình khác nhau được khai thác trên hệ thống EDUSAT (EDUSAT-vệ tinh phục vụ riêng cho giáo dục ở Ấn Độ).
Việc tổ chức các hội thảo được thực hiện với sự giúp đỡ của cơ sở hạ tầng EDUSAT và có thể truyền đi khắp các viện nghiên cứu. EDUSAT được sử dụng để cung cấp, đào tạo cho giảng viên về các chủ đề về công nghệ mới, hệ thống này tiết kiệm nhiều thời gian và kinh phí của chính phủ. Ở Haryana dự án EDUSAT phục vụ giảng dạy, học tập ở các trường đại học; Trong giảng dạy không chính quy, học viên có thể tiếp nhận thông tin và tài liệu học tập từ hệ thống ở bất cứ không gian và thời gian nào. Hệ thống có chức năng cung cấp tài liệu, các thông tin liên quan đến học phí… Tác giả cho biết, trong giáo dục từ xa 16 ở Ấn Độ, CNTT&TT đã được sử dụng để quản lý tốt các hồ sơ bằng cách hoàn thiện các dữ liệu của tất cả sinh viên trong các khóa học khác nhau.
- CNTT&TT phát triển nội dung và quản lý: Ở Ấn Độ sự hiện diện của CNTT&TT trong ngành giáo dục đã thúc đẩy nâng cao chất lượng, nội dung và QLGD. Ở quốc gia này đã xây dựng kho kỹ thuật số phục vụ mục tiêu học tập gồm cổng thông tin Sakshat (Sakshat - Cổng thông tin miễn phí cho giáo dục của Chính phủ Ấn Độ) và Chương trình học tập Quốc gia được hỗ trợ bởi NPTEL (NPTEL - chương trình quốc gia nâng cao kỹ thuật giáo dục thông qua học trực tuyến miễn phí sử dụng CNTT&TT). Các nhà QLGD tại Delhi tiên phong sử dụng CNTT&TT để quản lý hệ thống giáo dục. Bộ Giáo dục, các trường học và sinh viên ở Delhi thuộc thẩm quyền được sử dụng hệ thống thông tin QLGD dựa trên nền Website.
Thông tin liên quan đến sinh viên, giảng viên và các nhà quản lý có trên hệ thống trực tuyến thông qua trang website của Tổng cục giáo dục Ấn Độ (edudel.in), bao gồm thông tin về tuyển sinh, bảng điểm, giảng viên (hồ sơ, thuyên chuyển, bảng lương…) v. Những nội dung nêu trên cho thấy dựa trên CNTT&TT ngành giáo dục ở Ấn Độ đã giải quyết nhiều vấn đề thiết thực trong việc dạy, học và QLGD ở quốc gia này. Tác giả Sukanta Sarkar, khoa Quản lý Trường Đại học ICFAI (Institute of Chartered Financial Analysts of India University, Tripura), Agartala Ấn Độ với bài viết “Vai trò của Công nghệ thông tin và truyền thông trong giáo dục đại học của thế kỷ XXI” [113], đã đề cập đến vai trò nổi bật của CNTT&TT trong giáo dục đại học ở thế kỷ XXI. Theo tác giả, CNTT&TT đã tác động vào thực tiễn giáo dục, góp phần tăng trưởng đáng kể cho các hoạt động giáo dục đại học… Từ một số nghiên cứu cho thấy việc sử dụng CNTT&TT trong giáo dục đang làm phát triển rất nhanh các hoạt động giáo dục ở nhiều tiểu bang của Ấn Độ.
Đồng thời tác giả cho thấy, qua nhiều năm vấn đề dạy học trực tuyến ở Ấn Độ đã phát triển phổ biến và được thực hiện mạnh mẽ dựa trên hệ thống CNTT&TT. Công cụ này đã giúp cho nhiều sinh viên gặp khó khăn do bận làm việc, 17 trách nhiệm gia đình, vấn đề sức khỏe, về thời gian,… không thể đến trường được, thì giáo dục trực tuyến là lựa chọn duy nhất cho họ. Hệ thống đào tạo trực tuyến này đã thành công trong một số trường ở Ấn Độ và các trường đại học khác như: Đại học Phoenix, Đại học Harvard (Mỹ), Đại học Athabasca, Toronto (Canada). Sukanta Sarkar xem việc tích hợp CNTT&TT trong giảng dạy và học tập là vấn đề quan trọng trong việc đổi mới giáo dục đại học.
Công cụ CNTT&TT cần phải được xem như "Một khía cạnh thiết yếu của bộ công cụ văn hóa giảng dạy trong thế kỷ XXI”. Ở các vấn đề trên, tác giả cho thấy dựa trên CNTT&TT đã làm cho các hoạt động đào tạo ở Ấn Độ có nhiều bước tăng trưởng đáng kể. Sayling Wen (Đài Loan) tác giả cuốn “Công nghệ thông tin và nền giáo dục trong tương lai” [68], đã khẳng định rằng nhận thức việc đổi mới giáo dục không còn là một khẩu hiệu, mà là những hành động cụ thể. Hiện nay cả thế giới đã đi vào công cuộc cải cách giáo dục, với mục tiêu là giáo dục phải trở thành nền tảng căn bản nhất đối với mọi quốc gia trong thế kỷ XXI.
CNTT&TT đã tạo ra các biến đổi xã hội một cách sâu sắc, toàn diện, giáo dục cũng không còn nằm ngoài sự tác động của nó. CNTT&TT đã làm thay đổi mạnh mẽ cách thức dạy, học và quản lý. Vì vậy, mọi tổ chức cá nhân giáo dục có thể chọn một cách thức hiệu quả nhất đối với công việc cụ thể. Qua những nghiên cứu trên có thể nhận thấy việc QLGD và đào tạo dựa trên CNTT&TT là xu thế được nhiều quốc gia, nhiều nhà khoa học ở các quốc gia quan tâm nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau, được áp dụng phù hợp vào các cơ sở giáo dục tùy theo đặc điểm của mỗi quốc gia và đã đem lại những hiệu quả nhất định cho các hoạt động giáo dục.
Ở Việt Nam Tác giả Trần Kiểm, trong cuốn “Những vấn đề cơ bản của khoa học quản lý giáo dục” cho rằng: Một trong bảy xu thế lớn của giáo dục thế giới trong thế kỷ XXI là: “Áp dụng rộng rãi CNTT- một hướng đổi mới giáo dục có 18 hiệu quả”; “Tác động của CNTT đối với lĩnh vực giáo dục đang tạo ra một cuộc cách mạng về giáo dục mở” [53]. Nhóm tác giả Bùi Minh Hiền, Vũ Ngọc Hải, Đặng Quốc Bảo trong cuốn “Quản lý giáo dục” [40], đã đề cập vấn đề QLGD cần ứng dụng công nghệ hiện đại để tăng hiệu quả quản lý. Đồng thời các tác giả nhấn mạnh CNTT là công cụ của hệ thống thông tin, là “Nền” của QLGD trong nhà trường. Công cụ CNTT sẽ là phương tiện để xử lý, chọn lọc thông tin cho hoạt động quản lý và QLĐT trong nhà trường.
Nhóm tác giả: Jef Peeraer, Trần Nụ Mai Thi, Trần Thị Thái Hà với bài viết “Phân tích chính sách áp dụng CNTT&TT trong giáo dục đại học ở Việt Nam” [51], sau khi phân tích các chính sách CNTT&TT thực hiện trong thực tế, nội dung toàn cầu hóa và tính quyết định của công nghệ, đặc điểm không rõ ràng của chính sách CNTT&TT và những cơ sở chính sách,… đã nêu bật những yếu tố quan trọng của các chính sách và hướng dẫn việc áp dụng CNTT&TT vào giáo dục đại học ở Việt Nam bằng cách tạo nên một bức tranh về quá trình phát triển tầm nhìn và sứ mệnh cũng như các ưu tiên cho quá trình phát triển giáo dục.