Luận văn: Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Võ Nhai, Thái Nguyên

Luận văn phân tích thực trạng quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Võ Nhai, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả.

Chuyên ngành

Quản lý kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

123
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái quát về quản lý đào tạo nghề lao động nông thôn tại Võ Nhai

Quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Võ Nhai, tỉnh Thái Nguyên là một trong những nhiệm vụ quan trọng của chính quyền địa phương. Đây là công tác quản lý nhà nước nhằm nâng cao kỹ năng, kiến thức và khả năng thích ứng của lao động nông thôn với nhu cầu thị trường lao động hiện đại. Quá trình quản lý đào tạo nghề bao gồm các yếu tố như xác định nhu cầu, lập kế hoạch, triển khai chương trình và đánh giá hiệu quả. Tại Võ Nhai, công tác này gắn liền với các điều kiện kinh tế-xã hội, trình độ học vấn của cộng đồng nông thôn và nhu cầu việc làm thực tế. Mục đích chính là giúp lao động nông thôn có cơ hội thay đổi nghề nghiệp, tăng thu nhập và cải thiện chất lượng cuộc sống.

1.1. Khái niệm quản lý nhà nước về đào tạo nghề

Quản lý nhà nước về đào tạo nghề là quá trình tổ chức, điều hành các hoạt động liên quan đến đào tạo nghề cho lao động nông thôn. Đây là hình thức can thiệp của nhà nước để điều chỉnh, hướng dẫn phát triển kỹ năng nghề phù hợp với nhu cầu kinh tế xã hội. Tại huyện Võ Nhai, công tác này được thực hiện thông qua các chính sách, kế hoạch và các chương trình đào tạo cụ thể nhằm nâng cao chất lượng lao động nông thôn và giải quyết tình trạng thất nghiệp, thiếu việc làm.

1.2. Tầm quan trọng của đào tạo nghề tại Võ Nhai

Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Võ Nhai mang ý nghĩa sâu sắc trong việc phát triển kinh tế địa phương. Nó giúp lao động nông thôn có kỹ năng để làm việc trong các lĩnh vực không nông nghiệp, tạo cơ hội việc làm mới, tăng thu nhập gia đình. Đồng thời, công tác quản lý đào tạo nghề còn góp phần giảm áp lực lao động nông nghiệp, thúc đẩy các cơ cấu kinh tế bền vững và phát triển các ngành nghề mới tại huyện.

II. Thực trạng quản lý đào tạo nghề lao động nông thôn tại Võ Nhai

Tình hình quản lý đào tạo nghề tại huyện Võ Nhai cho thấy những thành tựu nhất định nhưng cũng tồn tại những hạn chế. Số lượng lao động nông thôn được đào tạo nghề còn hạn chế so với nhu cầu thực tế. Chất lượng đào tạo nghề chưa đạt yêu cầu cao, thiếu liên kết giữa đào tạo và việc làm sau khóa học. Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học tại các cơ sở đào tạo nghề còn thiếu thốn. Nhân lực giảng dạy chưa đủ chuyên môn và kinh nghiệm thực tế. Ngoài ra, lao động nông thôn còn thiếu nhận thức về tầm quan trọng của đào tạo nghề, hạn chế về năng lực tài chính để tham gia các khóa học.

2.1. Điều kiện kinh tế xã hội của huyện Võ Nhai

Huyện Võ Nhai nằm ở vùng nông thôn miền núi phía bắc Thái Nguyên với điều kiện kinh tế còn khó khăn. Lao động nông thôn chủ yếu làm nông nghiệp truyền thống hoặc công việc chân tay với thu nhập thấp. Trình độ học vấn trung bình còn hạn chế, tỷ lệ lao động có đào tạo nghề rất thấp. Cơ sở hạ tầng, giao thông vận tải chưa phát triển, ảnh hưởng đến việc tiếp cận các cơ sở đào tạo.

2.2. Nhu cầu và kỳ vọng của lao động nông thôn

Lao động nông thôn tại Võ Nhai có nhu cầu tìm kiếm những kỹ năng mới để tăng thu nhập và cải thiện đời sống. Nhiều người mong muốn tham gia đào tạo nghề trong các lĩnh vực như xây dựng, du lịch, chế biến nông sản, kinh doanh nhỏ. Tuy nhiên, nhu cầu đào tạo chưa được đáp ứng đầy đủ do thiếu chương trình, kinh phí, và cơ hội việc làm phù hợp sau đào tạo.

III. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đào tạo nghề

Công tác quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại Võ Nhai chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau. Các yếu tố chủ quan bao gồm: chính sách không rõ ràng, sự phối hợp yếu kém giữa các cơ sở đào tạo với doanh nghiệp, thiếu kinh phí đầu tư, nhân lực giảng dạy chưa đủ năng lực. Các yếu tố khách quan gồm: điều kiện kinh tế còn khó khăn của lao động nông thôn, nhận thức chưa cao về đào tạo nghề, cơ sở hạ tầng hạn chế, thị trường lao động chưa ổn định. Sự tác động của những yếu tố này làm cho quản lý đào tạo nghề chưa đạt hiệu quả cao, cần có những giải pháp khắc phục toàn diện.

3.1. Các yếu tố chủ quan trong quản lý đào tạo

Các yếu tố chủ quan liên quan đến quản lý nhà nước bao gồm: thiếu kế hoạch đào tạo lâu dài, phối hợp giữa các đơn vị quản lý chưa chặt chẽ, thiếu cơ chế kiểm tra-giám sát hiệu quả. Cơ sở đào tạo chưa có chương trình phù hợp với nhu cầu địa phương, thiếu liên kết với doanh nghiệp để giải quyết việc làm. Kinh phí đào tạo nghề hạn chế, không đủ để nâng cấp cơ sở vật chất và nâng cao chất lượng đào tạo.

3.2. Các yếu tố khách quan ảnh hưởng

Lao động nông thôn tại Võ Nhai có điều kiện kinh tế hạn chế nên khó tham gia đào tạo có thu phí. Nhận thức của cộng đồng về giá trị đào tạo nghề còn mơ hồ, nhiều người cho rằng không cần học thêm. Địa bàn huyện xa, giao thông khó khăn làm hạn chế tiếp cận cơ sở đào tạo. Thị trường lao động chưa ổn định, cơ hội việc làm sau đào tạo không chắc chắn, làm mất động lực của lao động.

IV. Giải pháp hoàn thiện quản lý đào tạo nghề tại Võ Nhai

Để hoàn thiện công tác quản lý đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện Võ Nhai, cần triển khai các giải pháp toàn diện và lâu dài. Thứ nhất, xác định chính xác nhu cầu đào tạo thông qua khảo sát, điều tra thực tế từ lao động nông thôn và doanh nghiệp. Thứ hai, xây dựng kế hoạch đào tạo phù hợp với nhu cầu thị trường lao động, các ngành nghề phát triển tại địa phương. Thứ ba, tăng đầu tư kinh phí, cải thiện cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học. Thứ tư, nâng cao chất lượng giảng dạy, tuyển dụng giáo viên có kinh nghiệm thực tế. Thứ năm, tăng cường liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp để giải quyết việc làm sau đào tạo. Cuối cùng, nâng cao nhận thức của cộng đồng về tầm quan trọng của đào tạo nghề.

4.1. Giải pháp về nhu cầu và lập kế hoạch đào tạo

Xác định nhu cầu đào tạo là bước cơ sở cho quản lý đào tạo hiệu quả. Cần tiến hành khảo sát, điều tra chi tiết để xác định nhu cầu đào tạo nghề của từng nhóm lao động nông thôn. Phối hợp với doanh nghiệp để dự báo nhu cầu nhân lực, từ đó xây dựng kế hoạch đào tạo phù hợp. Kế hoạch đào tạo phải rõ ràng về mục tiêu, nội dung, thời gian, kinh phí, nhân lực cần thiết, và cơ chế giám sát, đánh giá.

4.2. Giải pháp đa dạng hóa và xã hội hóa đào tạo

Đa dạng hóa hình thức đào tạo để phù hợp với tình hình của lao động nông thôn: đào tạo theo khóa dài, ngắn hạn, đào tạo tại chỗ, đào tạo trực tuyến. Xã hội hóa đào tạo nghề thông qua khuyến khích doanh nghiệp, các tổ chức xã hội tham gia đào tạo. Hỗ trợ kinh phí cho lao động nông thôn có hoàn cảnh khó khăn để tham gia đào tạo. Liên kết giữa cơ sở đào tạo với doanh nghiệp để giải quyết việc làm sau khóa học, tạo động lực cho lao động tham gia.

22/12/2025
Quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn tại huyện võ nhai tỉnh thái nguyên

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ ĐÀO TẠO NGHỀ CHO LAO ĐỘNG NÔNG THÔN 1. Cơ sở lý luận quản lý nhà nước về đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Khái quát chung về đào tạo nghề cho lao động nông thôn 1. Một số khái niệm cơ bản a.

Khái niệm về nghề Nghề là một lĩnh vực hoạt động lao động mà trong đó, nhờ được đào tạo, con người có được những tri thức, những kỹ năng để làm ra các loại sản phẩm vật chất hay tinh thần nào đó, đáp ứng được những nhu cầu của xã hội. Nghề nghiệp trong xã hội không phải là một cái gì cố định, cứng nhắc. Nghề nghiệp cũng giống như một cơ thể sống, có sinh thành, phát triển và tiêu vong. Chẳng hạn, do sự phát triển của kỹ thuật điện tử nên đã hình thành công nghệ điện tử, do sự phát triển vũ bão của kỹ thuật máy tính nên đã hình thành cả một nền công nghệ tin học đồ sộ bao gồm việc thiết kế, chế tạo cả phần cứng, phần mềm và các thiết bị bổ trợ v.v… Công nghệ các hợp chất cao phân tử tách ra từ công nghệ hóa dầu, công nghệ sinh học và các ngành dịch vụ, du lịch tiếp nối ra đời… Ở Việt Nam trong những năm gần đây, do sự chuyển biến của nền kinh tế từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, nên đã gây ra những biến đổi sâu sắc trong cơ cấu nghề nghiệp của xã hội.

Trong cơ chế thị trường, nhất là trong nền kinh tế tri thức tương lai, sức lao động cũng là một thứ hàng hóa. Giá trị của thứ hàng hóa sức lao động này tuỳ thuộc vào trình độ, tay nghề, khả năng về mọi mặt của người lao động. Xã hội đón nhận thứ hàng hóa này như thế nào là do “hàm lượng chất xám” và “chất lượng sức lao động” quyết định. Khái niệm phân công công tác sẽ mất dần trong quá trình vận hành của cơ chế thị trường.

Con người phải chủ động chuẩn bị tiềm lực, 7 trau dồi bản lĩnh, nắm vững một nghề, biết nhiều nghề để rồi tự tìm việc làm, tự tạo việc làm… b. Lao động nông thôn Nguồn lao động nông thôn là một bộ phận dân số sinh sống và làm việc ở nông thôn trong độ tuổi nam từ 16 đến 60 tuổi, nữ từ 16 đến 55 tuổi (theo quy định của pháp luật) có khả năng lao động. Lực lượng lao động ở nông thôn là bộ phận của nguồn lao động ở nông thôn bao gồm những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động, đang có việc làm và những người thất nghiệp nhưng có nhu cầu tìm việc làm. Tuy nhiên do đặc điểm, tính chất, mùa vụ công việc ở nông thôn mà lực lượng tham gia sản xuất nông nghiệp không chỉ có những người trong độ tuổi lao động mà còn có những người trên hoặc dưới độ tuổi lao động tham gia sản xuất với những công việc phù hợp với mình.

Từ khái niệm nguồn lao động ở nông thôn mà ta thấy lao động ở nông thôn rất dồi dào, nhưng đây cũng chính là thách thức trong việc giải quyết việc làm cho lao động ở nông thôn. Lao động nông thôn có một số đặc điểm cơ bản như sau: Số lượng lớn; Lao động nông thôn chủ yếu làm nông nghiệp, trình độ học vấn thấp, không được đào tạo cơ bản; Mang tính thời vụ do đặc thù của nghề nông; GDP/Đầu người thấp. Tóm lại có thể đưa ra cách tiếp cận khái niệm lao động nông thôn là toàn bộ những người trong độ tuổi lao động có khả năng lao động thuộc khu vực nông thôn. Đặc điểm của đào tạo nghề cho lao động nông thôn Tại Điều 3 trong Luật Giáo dục nghề nghiệp năm 2014, đào tạo nghề nghiệp là hoạt động dạy và học nhằm trang bị kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết cho người học để có thể tìm được việc làm hoặc tự tạo việc làm sau khi hoàn thành khóa học hoặc để nâng cao trình độ nghề nghiệp.

Hay nói theo cách khác, đào tạo nghề là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức đến người học nghề để hình thành và phát triển một cách có hệ 8 thống những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cần thiết nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, trong đó có nhu cầu quốc gia, nhu cầu doanh nghiệp và nhu cầu bản thân người học nghề. * Đặc điểm của đào tạo nghề: Thứ nhất, người lao động ở nông thôn được tham gia chương trình đào tạo nghề của Chính phủ ban hành. Trong đó ưu tiên dạy nghề cho các đối tượng là người thuộc diện được hưởng chính sách ưu đãi người có công với cách mạng, hộ nghèo, hộ có thu nhập tối đa bằng 150% thu nhập của hộ nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất canh tác. Thứ hai, kinh phí hỗ trợ đào tạo nghề được lấy từ ngân sách trung ương, địa phương, doanh nghiệp.

Trong đó, ngân sách trung ương đảm bảo kinh phí để thực hiện chính sách hỗ trợ lao động nông thôn học nghề, hoạt động đào tạo; các cá nhân, doanh nghiệp tham gia công tác đào tạo nghề được hưởng mức thuế ưu đãi theo đúng quy định của pháp luật. Thứ ba, đào tạo nghề phải gắn với giải quyết việc làm cho người lao động. Đây là đặc điểm nổi bật của đề án 1956 của Chính phủ về đào tạo nghề cho người lao động nông thôn. Thực trạng phát triển hiện nay của Việt Nam, người lao động chủ yếu sinh sống ở khu vực nông thôn và làm ngành nghề nông nghiệp.

Phần lớn trong số họ đều sản xuất theo kiểu truyền thống, nặng về kinh nghiệm được truyền từ đời này sang đời khác, sự thiếu hẳn kiến thức chuyên môn về nông nghiệp đã ảnh hưởng đến hiệu quả làm nông. Một khi người nông dân quen với cách thức canh tác ngàn đời thì rất khó thay đổi, dẫn đến mức sống cũng khó mà thay đổi theo từng năm. Trước tình hình đó, Chính phủ đã xây dựng đề án 1956 nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống ở khu vực nông thôn bằng cách dạy nghề cho họ, giảm tỷ hộ nghèo, đặc biệt là hộ nghèo người dân tộc thiểu số. Thứ tư, đào tạo nghề hướng tới từng bước xoá bỏ sự cách biệt cứng nhắc giữa khu vực nông thôn và khu vực thành thị, giữa lao động chân tay và lao động trí óc.

9 Thứ năm, sự liên kết giữa các bên tham gia ở tất cả các khâu của đào tạo nghề. Từ khâu tuyển sinh đầu vào đến quá trình đào tạo và đầu ra phải có sự phối hợp ăn ý giữa chính quyền - đại diện quản lý nhà nước, doanh nghiệp - đại diện tiếp nhận lao động qua đào tạo nghề, người lao động - đại diện bên hưởng thụ hỗ trợ dự án. Trong đó, chính quyền quản lý đóng vai trò cầu nối trung gian cho nhà tuyển dụng doanh nghiệp và người lao động, thường xuyên điều tra khảo sát nhu cầu lao động của nhà tuyển dụng lao động và thông tin rộng rãi đến các cấp và trực tiếp đến người lao động, đặc biệt người lao động chưa có việc làm hoặc mới nghỉ việc. Tính liên kết trong đào tạo nghề không thể thiếu đối với bất kỳ mô hình đào tạo, từ truyền thống cho đến hiện đại.

Trong xã hội ngày càng hiện đại, sự xuất hiện các tổ chức làm nhiệm vụ trung gian là điều tất yếu. Chính quyền quản lý hoạt động của tổ chức trên từng phạm vi của lãnh thổ, nhờ vào việc tổ chức dịch vụ nắm được thông tin về kết quả cần chuyển giao của nghiên cứu và nhu cầu của nơi cần sự ứng dụng khoa học và công nghệ nên hiệu quả sẽ tăng lên. Để làm tốt được sự liên kết nêu trên, đại diện mỗi bên tham gia phải tìm tiếng nói chung và bản ký kết trong đó quy định nghĩa vụ, quyền lợi cụ thể khi tham gia vào từng mắt xích của hệ thống. Thứ sáu, từng bước thay đổi những định hướng giá trị nghề nghiệp trong đó kết hợp hài hoà giữa lợi ích, nhu cầu cá nhân và xã hội.

Quan niệm của nhiều người là chỉ học nghề khi không đậu cao đẳng/đại học còn rất phổ biến, xem trọng nghề được đào tạo rất ít mà hầu hết cho rằng học nghề cho có bởi vì chỉ có bằng cao đẳng/đại học mới có thể kiếm được việc làm. Hơn nữa, người lao động đăng ký tham gia học nghề do thấy được miễn học phí và được hỗ trợ chi phí ăn ở, đi lại trong thời gian đào tạo mà không nhận thức được tầm quan trọng của việc học nghề theo chủ trương định hướng của chính quyền. Để thay đổi nhận thức là công việc không phải ngày một ngày hai mà mất đến một năm, thậm chí hơn một năm mới hy vọng có sự chuyển biến từ 10 sâu bên trong của người lao động, chỉ khi nào họ nhận thức đúng vai trò của công tác đào tạo nghề thì chất lượng mới có thể thay đổi theo hướng tích cực. Thứ bảy, chuyển dần từ đào tạo nghề một lần sang đào tạo, bồi dưỡng liên tục, suốt đời.

Chuyển từ đào tạo kỹ năng sang đào tạo và hình thành năng lực, đặc biệt là các năng lực mềm (tư duy, thích nghi, biến đổi…). Đây là đặc điểm có tính đột phá trong đào tạo nghề, từ việc thay đổi trong suy nghĩ của người lao động đến việc hình thành năng lực tư duy lâu dài, từ việc được ý thức cho đến tự ý thức. Với những thay đổi không ngừng trong quá trình hội nhập và phát triển ở bất kỳ khu vực lao động như hiện nay đã đặt ra cho công tác đào tạo nghề không chỉ đào tạo một lần mà thay vào đó phải xây dựng kế hoạch đào tạo lâu dài đáp ứng được điều kiện thay đổi của thực tế. Hầu hết những cơ sở đào tạo nghề hiện nay mới hướng tới những giá trị đạt chỉ tiêu hiện tại, chưa xác định được định hướng trong phát triển tương lai, điều này đòi hỏi ở người lao động lại càng khó hơn.

Phân loại đào tạo nghề cho lao động nông thôn Căn cứ vào trình độ đào tạo, phương thức đào tạo, đối tượng đào tạo, đào tạo nghề cho lao động nông thôn được phân loại như sau: - Theo trình độ đào tạo: Trình độ Sơ cấp nghề, Trung cấp nghề, Cao đẳng nghề. - Theo hình thức đào tạo: Dạy nghề chính quy và thường xuyên, dạy nghề tập trung và lưu động, dạy nghề tại doanh nghiệp và làng nghề.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ