Tổng quan nghiên cứu

Trong bối cảnh biến đổi khí hậu toàn cầu và cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, chuyển đổi mô hình kinh tế sang hướng sinh thái bền vững đã trở thành xu thế tất yếu. Tại Việt Nam, Quyết định số 1393/QĐ-TTg ngày 25/9/2012 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2011-2020 và tầm nhìn đến năm 2050 đã khẳng định quyết tâm phát triển nền kinh tế các-bon thấp. Song hành cùng định hướng này, Quyết định số 630/QĐ-TTg ngày 29/5/2012 về Chiến lược phát triển dạy nghề thời kỳ 2011-2020 đặt ra mục tiêu đào tạo nghề cho khoảng 23,5 triệu người (chiếm 40% tổng số lao động qua đào tạo) vào năm 2015 và đạt 34,4 triệu người (chiếm 55%) vào năm 2020, trong đó tỷ lệ tốt nghiệp cao đẳng nghề và trung cấp nghề đạt khoảng 20% đến 23%. Thách thức cốt lõi đặt ra là làm thế nào để lực lượng lao động qua đào tạo được trang bị đầy đủ năng lực thực thi các nhiệm vụ xanh hóa sản xuất.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là giải quyết khoảng trống trong công tác quản lý nhà nước ở cấp Trung ương đối với đào tạo nghề nhằm cung ứng nguồn nhân lực kỹ thuật cho việc làm xanh. Mục tiêu cụ thể là hệ thống hóa cơ sở lý luận, khảo sát thực trạng quản lý giai đoạn đến năm 2013 và đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ đến năm 2020. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào cơ quan quản lý nhà nước về dạy nghề ở cấp Trung ương, trọng tâm là Tổng cục Dạy nghề thuộc Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, kết hợp khảo sát thực tiễn tại 30 trường cao đẳng nghề và trung cấp nghề trên toàn quốc. Đề tài có ý nghĩa chiến lược trong việc hỗ trợ hiện thực hóa chỉ tiêu 80% cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn môi trường và 50% áp dụng công nghệ sạch hơn đến năm 2020, góp phần nâng cao hiệu quả đào tạo nghề quốc gia.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng hệ thống lý thuyết quản lý tổ chức hiện đại, trong đó tiếp cận 4 chức năng quản lý cốt lõi gồm kế hoạch hóa, tổ chức, lãnh đạo điều hành và kiểm tra theo mô hình của Schermerhorn (1999) và GS.TS. Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2012). Đồng thời, nghiên cứu tích hợp lý thuyết phát triển năng lực hành nghề của Hanno Horsch với 3 thành tố: năng lực chuyên môn, năng lực phương pháp và năng lực xã hội, từ đó mở rộng sang khái niệm năng lực xanh do Trung tâm Phát triển Dạy nghề châu Âu (CEDEFOP, 2010) đề xuất.

Khái niệm việc làm xanh được tiếp cận theo định nghĩa toàn diện của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và Chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP, 2008). Luận văn phân định rõ 2 cấu trúc việc làm: việc làm xanh thuần túy (các ngành nghề chuyên trách bảo vệ môi trường, năng lượng tái tạo, quản lý chất thải) và việc làm xanh hóa (các công việc truyền thống được chuyển đổi quy trình công nghệ thân thiện với hệ sinh thái). Trên nền tảng đó, đào tạo nghề đáp ứng việc làm xanh được định nghĩa là hoạt động đào tạo hình thành kiến thức, kỹ năng và thái độ bảo vệ môi trường cho người học ở cả 4 phân hệ: đào tạo ban đầu, đào tạo lại, chuyển nghề và bồi dưỡng thường xuyên.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu kết hợp hài hòa giữa phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng nhằm bảo đảm độ tin cậy và tính khái quát cao. Nguồn dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo thường niên của Tổng cục Dạy nghề giai đoạn 2011-2013 và dữ liệu kinh nghiệm quốc tế tại 4 quốc gia tiêu biểu gồm Đức, Mỹ, Hàn Quốc và Philippines.

Cỡ mẫu khảo sát thực địa bao gồm cán bộ quản trị tại Tổng cục Dạy nghề cùng đại diện ban giám hiệu, trưởng khoa chuyên môn và giáo viên tại 30 trường cao đẳng nghề, trung cấp nghề trên phạm vi toàn quốc. Nghiên cứu áp dụng phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên có chủ đích nhằm phản ánh khách quan cơ cấu địa lý 3 miền Bắc, Trung, Nam và tính đa dạng của các khối ngành đào tạo kỹ thuật. Phương pháp phân tích thống kê mô tả và đối chiếu dữ liệu được lựa chọn nhờ ưu thế vượt trội trong việc lượng hóa thực trạng nhận thức, đo lường khoảng cách thiếu hụt kỹ năng giữa cơ sở đào tạo với thị trường lao động, đồng thời kiểm định mức độ khả thi của hệ thống giải pháp quản lý đề xuất cho giai đoạn đến năm 2020.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thực trạng quản lý nhà nước ở cấp Trung ương về đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu việc làm xanh giai đoạn khảo sát bộc lộ 4 phát hiện then chốt:

Thứ nhất, nhận thức và định hướng chiến lược còn mang tính rời rạc. Hơn 75% cơ sở đào tạo nghề được khảo sát chưa từng xây dựng mục tiêu hoặc chuẩn đầu ra chuyên biệt về năng lực xanh trong chương trình đào tạo chính quy, phần lớn chỉ dừng lại ở nội dung an toàn vệ sinh lao động đại cương.

Thứ hai, công tác quy hoạch mạng lưới và kế hoạch hóa thiếu sự gắn kết với thị trường lao động xanh. Mặc dù Chiến lược tăng trưởng xanh đặt mục tiêu giảm cường độ phát thải khí nhà kính từ 8% đến 10% và giảm tiêu hao năng lượng trên GDP từ 1% đến 1,5% mỗi năm, nhưng cơ chế dự báo nhu cầu nhân lực xanh liên ngành giữa cơ quan lao động và quản lý môi trường vẫn chưa được thiết lập.

Thứ ba, cơ sở vật chất và công nghệ thực hành tại các cơ sở đào tạo có độ trễ lớn so với thực tế sản xuất khoảng 5 đến 10 năm. Gần 80% trường nghề được khảo sát thiếu trang thiết bị mô phỏng dây chuyền sản xuất sạch hơn hoặc thiết bị đo kiểm tiết kiệm tài nguyên.

Thứ tư, đội ngũ giáo viên và học liệu đào tạo chưa được xanh hóa đồng bộ. Tỷ lệ giảng viên, giáo viên dạy nghề được tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu về kỹ năng xanh chỉ chiếm dưới 15% tổng số nhà giáo tại các cơ sở được khảo sát, tạo ra rào cản lớn trong việc truyền tải năng lực thực hành cho người học.

Thảo luận kết quả

Nguyên nhân cốt lõi của các điểm nghẽn nêu trên bắt nguồn từ việc thiếu vắng một khung khổ chính sách và tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia có tích hợp các tiêu chí xanh hóa. Đối chiếu với kinh nghiệm quốc tế, chương trình JOBSTARTER tại Đức từng bổ sung 6.000 vị trí học nghề xanh năm 2009, hay gói kích cầu 38,5 tỷ USD của Hàn Quốc tạo ra 956.000 việc làm xanh cho thấy vai trò quyết định của chính sách quản lý Trung ương trong việc dẫn dắt nguồn lực và thiết lập chuẩn kỹ năng.

Dữ liệu thực trạng có thể được trực quan hóa tối ưu thông qua biểu đồ cột so sánh tỷ lệ đáp ứng chuẩn xanh giữa các nhóm ngành công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ, đi kèm bảng ma trận tương quan giữa nguồn lực tài chính với mức độ sẵn sàng đào tạo kỹ năng xanh tại các địa phương. Các kết quả khẳng định rằng nếu không có sự can thiệp thể chế mạnh mẽ tương tự mục tiêu giảm 17% phát thải của Mỹ, hệ thống giáo dục nghề nghiệp Việt Nam sẽ khó lòng đáp ứng mục tiêu cung ứng 34,4 triệu lao động kỹ thuật thích ứng tốt với nền kinh tế xanh vào năm 2020.

Đề xuất và khuyến nghị

Trên cơ sở phân tích thực trạng và kinh nghiệm quốc tế, luận văn đề xuất 4 nhóm giải pháp quản lý đồng bộ ở cấp Trung ương dành cho Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội cùng Tổng cục Dạy nghề:

  1. Hoàn thiện công tác kế hoạch hóa và chiến lược phát triển đào tạo nghề xanh: Ban hành Kế hoạch tổng thể phát triển đào tạo nghề đáp ứng việc làm xanh giai đoạn 2015-2020; phối hợp với Bộ Tài nguyên và Môi trường thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu dự báo nhu cầu nhân lực xanh, hướng đến mục tiêu 100% chương trình đào tạo nghề trọng điểm quốc gia được tích hợp chuẩn đầu ra xanh trước năm 2020.
  2. Kiện toàn cơ cấu tổ chức và tăng cường phối hợp liên ngành: Thành lập Hội đồng quốc gia hoặc Tổ công tác chuyên trách về đào tạo nghề cho việc làm xanh tại Tổng cục Dạy nghề trong giai đoạn 2015-2016; xây dựng cơ chế phối hợp ba bên giữa Nhà nước, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp nhằm đảm bảo tối thiểu 60% thời lượng thực hành của học viên được cọ xát trực tiếp với công nghệ sản xuất sạch tại cơ sở sản xuất kinh doanh.
  3. Đổi mới công tác lãnh đạo, điều hành và hoàn thiện quy chuẩn chuyên môn: Ban hành bộ tiêu chuẩn cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy nghề xanh; tổ chức bồi dưỡng năng lực giảng dạy kỹ năng xanh cho ít nhất 70% giáo viên dạy nghề cốt cán trước năm 2018; đồng thời ban hành chính sách ưu đãi tài chính và thuế cho các cơ sở đào tạo tham gia xanh hóa giáo trình.
  4. Tăng cường thanh tra, kiểm tra và kiểm định chất lượng: Tích hợp các tiêu chí đánh giá năng lực xanh vào bộ tiêu chuẩn kiểm định chất lượng dạy nghề; tiến hành kiểm tra định kỳ 100% cơ sở đào tạo nghề trọng điểm về việc thực thi cam kết bảo vệ môi trường và chuẩn đầu ra xanh đến năm 2020.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang lại hàm lượng khoa học và giá trị ứng dụng cao cho 4 nhóm đối tượng trọng tâm:

  1. Cơ quan quản lý nhà nước và hoạch định chính sách: Lãnh đạo và chuyên viên tại Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp sử dụng luận văn làm căn cứ khoa học để hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, sửa đổi danh mục nghề và xây dựng tiêu chuẩn kỹ năng nghề quốc gia tương thích với Chiến lược tăng trưởng xanh.
  2. Ban giám hiệu và cán bộ quản lý cơ sở đào tạo nghề: Hiệu trưởng, trưởng khoa tại 30 trường thí điểm cũng như toàn bộ mạng lưới trường cao đẳng, trung cấp nghề tham khảo mô hình xanh hóa chương trình đào tạo, quy trình nâng chuẩn giáo viên và phương thức hợp tác đào tạo cùng doanh nghiệp nhằm nâng tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp có việc làm đạt trên 85%.
  3. Doanh nghiệp và tổ chức sử dụng lao động: Các tập đoàn kinh tế, cơ sở sản xuất kinh doanh chuyển đổi theo mô hình kinh tế tuần hoàn ứng dụng khung năng lực xanh để xây dựng tiêu chuẩn tuyển dụng, đặt hàng đào tạo theo địa chỉ và tối ưu hóa năng suất lao động thân thiện với môi trường.
  4. Giảng viên, nghiên cứu sinh và học viên cao học: Các nhà nghiên cứu thuộc chuyên ngành Quản lý giáo dục, Kinh tế lao động và Khoa học môi trường khai thác hệ thống dữ liệu điều tra, mô hình 4 chức năng quản lý và các phương pháp luận của luận văn để phát triển các công trình nghiên cứu chuyên sâu tiếp theo.

Câu hỏi thường gặp

Việc làm xanh được phân loại như thế nào trong nghiên cứu?

Việc làm xanh được chia thành 2 nhóm rõ rệt: việc làm xanh thuần túy trong các ngành bảo vệ môi trường, xử lý chất thải, năng lượng tái tạo; và việc làm xanh hóa bắt nguồn từ việc cải tiến công nghệ, tiết kiệm tài nguyên tại các ngành sản xuất truyền thống để hướng tới mục tiêu phát triển bền vững.

Vì sao công tác quản lý ở cấp Trung ương giữ vai trò quyết định đối với đào tạo nghề xanh?

Cơ quan quản lý Trung ương giữ vai trò dẫn dắt thông qua việc hoàn thiện thể chế, phân bổ nguồn lực tài chính và ban hành quy chuẩn kỹ năng nghề. Nếu thiếu chỉ đạo tập trung từ Trung ương, các trường nghề sẽ thiếu hành lang pháp lý để đầu tư trang thiết bị công nghệ sạch phục vụ 34,4 triệu lao động đến năm 2020.

Khung năng lực xanh của người lao động bao gồm những yếu tố cấu thành nào?

Năng lực xanh bao gồm 3 yếu tố cốt lõi: kiến thức về bảo vệ môi trường và sinh thái học; kỹ năng vận hành công nghệ sạch, xử lý chất thải và sử dụng năng lượng hiệu quả; cùng thái độ trách nhiệm, ý thức tuân thủ an toàn sinh thái tại nơi làm việc theo chuẩn CEDEFOP.

Cơ sở đào tạo nghề cần lộ trình nào để xanh hóa chương trình đào tạo hiện hữu?

Cơ sở đào tạo cần rà soát khung chương trình sẵn có, phối hợp với doanh nghiệp phân tích các vị trí việc làm thực tế, từ đó lồng ghép các mô-đun năng lực xanh, nâng cấp xưởng thực hành và bồi dưỡng nghiệp vụ cho giáo viên mà không làm xáo trộn toàn bộ cấu trúc chương trình.

Bài học quốc tế nào có giá trị ứng dụng cao nhất cho Việt Nam?

Kinh nghiệm từ chương trình JOBSTARTER của Đức và mô hình kinh tế các-bon thấp của Hàn Quốc với gói đầu tư 38,5 tỷ USD tạo 956.000 việc làm là minh chứng điển hình cho việc kết hợp hiệu quả giữa nguồn vốn nhà nước và cơ chế hợp tác công - tư trong đào tạo nhân lực xanh.

Kết luận

  • Hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đối với đào tạo nghề theo 4 chức năng cốt lõi gắn chặt với yêu cầu việc làm xanh và tăng trưởng bền vững.
  • Phân tích sâu sắc thực trạng quản lý đào tạo nghề tại cơ quan Trung ương và 30 cơ sở đào tạo trên cả nước, chỉ rõ những bất cập về quy hoạch mạng lưới, giáo trình và trang thiết bị thực hành.
  • Đúc kết các bài học kinh nghiệm quốc tế giá trị từ Đức, Mỹ, Hàn Quốc và Philippines về vai trò điều phối thể chế và thúc đẩy hợp tác công - tư trong phát triển kỹ năng xanh.
  • Xây dựng hệ thống 4 nhóm giải pháp quản lý đồng bộ, khả thi cho giai đoạn 2015-2020 nhằm bảo đảm nguồn nhân lực kỹ thuật chất lượng cao cho nền kinh tế các-bon thấp.
  • Đóng góp luận cứ khoa học quan trọng giúp hiện thực hóa mục tiêu đào tạo 34,4 triệu lao động qua đào tạo nghề vào năm 2020 theo Chiến lược phát triển dạy nghề quốc gia.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là xác lập khung giải pháp quản lý nhà nước cấp Trung ương mang tính thực tiễn cao, giúp thu hẹp khoảng cách giữa chính sách giáo dục nghề nghiệp và nhu cầu chuyển đổi kinh tế xanh. Các cơ quan quản lý, viện nghiên cứu và hệ thống trường nghề cần khẩn trương phối hợp triển khai đồng bộ các giải pháp đề xuất để chủ động đón đầu làn sóng việc làm xanh tại Việt Nam.