Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý HĐĐT ngành QTKD ở trường Đại học. - Chương 2: Thực trạng quản lý HĐĐT ngành QTKD ở Trường Đại học Tài chính – Kế toán. - Chương 3: Biện pháp quản lý HĐĐT ngành QTKD ở Trường Đại học Tài chính – Kế toán. 5 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÀO TẠO NGÀNH QUẢN TRỊ KINH DOANH Ở TRƢỜNG ĐẠI HỌC 1.
Tổng quan các nghiên cứu liên quan đến đề tài 1. Các nghiên cứu nước ngoài Trong xu hướng toàn cầu hóa hiện nay, nền kinh tế tri thức với vai trò rất quan trọng trong việc quyết định sự phát triển kinh tế đang khiến cho tất cả các quốc gia đặt chiến lược con người trở thành mục tiêu hàng đầu. Cùng với sự phát triển của cách mạng khoa học và công nghệ, các quốc gia đang phải đối mặt với rất nhiều cơ hội và thách thức do toàn cầu hóa mang lại. Do đó, nguồn nhân lực đã trở thành một tài sản quan trọng và quyết định cho sự tồn tại và phát triển của bất kỳ một quốc gia nào.
Khi tri thức đã và đang trở thành một nguồn lực kinh tế chủ yếu của lợi thế cạnh tranh thì nhiều quốc gia coi đổi mới hệ thống giáo dục và đào tạo là chiến lược sống còn trong chiến lược phát triển của mình. Trong đó, giáo dục đại học nói chung và trường đại học nói riêng đóng vai trò vô cùng quan trọng. Trường đại học không những có vai trò quan trọng trong lĩnh vực đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao mà còn trở thành trung tâm nghiên cứu lớn về sản xuất tri thức mới góp phần nâng cao chất lượng đào tạo và phát triển bền vững. Với sứ mệnh ấy, các trường đại học đứng trước thách thức phải đa dạng hóa ngành học để SV khi ra trường có thể năng động trong cuộc sống hiện đại.
HĐĐT ở các cơ sở giáo dục nói chung và Nhà trường nói riêng đóng vai trò quyết định đối với chất lượng giáo dục và sự tồn tại của Nhà trường. Do đó, HĐĐT luôn được Nhà trường chú trọng. Đối với các trường đại học, HĐĐT được hiểu bao trùm là toàn bộ các hoạt động liên quan đến công tác đào tạo. HĐĐT đã được rất nhiều tác giả tìm hiểu, nghiên cứu, không chỉ trong nước mà còn ở các quốc gia trên thế giới.
Theo Guy Neave [16] 4 nước lớn: Pháp, Đức, Anh và Mỹ đã tác động đến toàn bộ các hệ thống giáo dục bậc cao và đã tạo ra 4 mô hình lịch sử lớn: - Mô hình Napoleon là một trong những ví dụ cổ xưa nhất về việc Nhà nước sử dụng đại học như một công cụ để hiện đại hóa xã hội, thông qua việc kiểm soát chặt chẽ sự tài trợ cho nhà trường và bổ nhiệm các chức vụ và một pháp chế bảo đảm sự phân bố đồng đều các nguồn lực quốc gia trên toàn lãnh thổ. - Mô hình Humboldt chú trọng đến tính độc lập của quyền tự do của các thành viên cao cấp được theo đuổi nghiên cứu không có sự can thiệp của chính quyền. Nhà nước có trách nhiệm đảm bảo tính độc lập của công tác giảng dạy và nghiên cứu là hai nhiệm vụ lớn của đại học. - Mô hình Mỹ dựa trên nền tảng của quy luật thị trường, chịu ảnh hưởng sâu sắc của triết lý Humboldt, nhưng phát triển hơn ở chỗ gắn chặt với KT-XH và mang tính đại chúng.
6 - Mô hình Anh là một hệ thống giáo dục bậc cao được hưởng một sự tự trị về thể chất rộng rãi: Chính phủ giao cho trường đại học tự phân phối lấy phần kinh phí Nhà nước cấp và có sự quan tâm đến sự phát triển cá nhân của SV cả về mặt trí tuệ lẫn đời sống. Trong Giáo trình Giáo dục đại học Việt Nam và thế giới (2010) [12] chủ biên Trần Khánh Đức đã chỉ ra Hoa kỳ là một quốc gia được xếp hạng ở nhóm các nước phát triển cao và có hệ thống giáo dục đặc thù của một nước có nền kinh tế thị trường, phát triển mạnh theo cơ chế phi tập trung hoá. Bậc đại học bao gồm các Đại học (University) và Cao đẳng. Loại hình trường Cao đẳng như Cao đẳng cộng đồng (Community Colleges); Cao đẳng ( Junior Colleges); Các trường cao đẳng kỹ thuật, nghề nghiệp (Voc/Tech Institutions).
Hệ thống Đại học Hoa kỳ chủ yếu là các đại học đa lĩnh vực, đại học nghiên cứu (Research University) và có nhiều loại hình đào tạo khác nhau từ cử nhân (Bachelor degree ) đến Thạc sĩ (Masters degree) và Tiến sĩ (Ph. Trong hệ thống đại học còn có một số loại hình trường chuyên ngành (Professional Schools) như Trường Luật, Trường Y. Nếu như ở Hoa kỳ, quá trình đại chúng hóa giáo dục đại học có vai trò lớn của hệ thống các trường cao đẳng cộng đồng (community college) thì ở Nhật Bản vai trò lớn thuộc về hệ thống các trường đại học, cao đẳng tư. Hệ thống giáo dục đại học hiện đại của Nhật Bản được hình thành từ cuối thế kỷ 19 với sự ra đời của Đại học Tokyo (sau này được gọi là Đại học hoàng gia Tokyo) vào năm 1887.
Qua hơn nửa thế kỷ tái cấu trúc hệ thống giáo dục đại học (1945-2010) và đặc biệt là các chính sách và biện pháp cải cách giáo dục đại học từ 1984 cho đến nay, hệ thống giáo dục đại học Nhật Bản đã có những thay đổi cơ bản cả về cấu trúc hệ thống, loại hình, quy mô và trình độ đào tạo. Nhật Bản đã có một hệ thống giáo dục đại học ngang tầm quốc tế với khả năng cạnh tranh quốc tế ngày càng cao, đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội hiện đại Nhật Bản trong thế kỷ 21. Burton Clark [39] cũng cung cấp một mô hình trong Hệ thống giáo dục đại học, phân tích tổ chức của các cơ sở và hệ thống giáo dục đại học. Trọng tâm của mô hình là các khái niệm về kiến thức, niềm tin và quyền hạn.
Khi xem xét khả năng áp dụng mô hình của Clark đối với sự hiểu biết về các hệ thống và cơ sở giáo dục đại học ngày nay, người ta có thể nhận thấy sự suy yếu của ranh giới cả trong các cơ sở giáo dục đại học và giữa chúng với các tổ chức khác của xã hội. Tuy nhiên, phần lớn mô hình phân tích của Clark vẫn rất phù hợp với hiểu biết của chúng ta về các hệ thống và cơ sở giáo dục đại học ngay cả khi các biểu hiện thực nghiệm của chúng đã thay đổi trong những năm qua. Bên cạnh đó, các nước trong khu vực ASEAN như Thái Lan, Malaysia, Philipin,…cũng đang thực hiện cải cách giáo dục đại học theo hướng đa dạng hóa, hình thành hệ thống đảm bảo chất lượng giáo dục đại học. Chính vì thế, có rất nhiều diễn đàn, hội thảo được tổ chức để tìm phương án, lối đi cho ngành giáo dục, nhất là 7 giáo dục đại học.
Trong cuộc hội thảo quốc tế về đổi mới quản lý giáo dục đại học với chủ đề: “Các trường Đại học đáp ứng như thế nào với nhu cầu quốc tế hóa” do Khoa Quốc tế, ĐH Quốc gia Hà Nội tổ chức ngày 28.2015, thu hút nhiều diễn giả danh tiếng từ Anh, Mỹ, Úc, Pháp, Nga, Đài Loan và các nước trong khu vực như Malaysia và Thái Lan. Jorge L-Diaz Herrera, Hiệu trưởng Trường Keuka University, Hoa Kỳ cho rằng “Quốc tế hóa là hiện tượng mọi nền kinh tế và mọi xã hội, trong đó có thị trường lao động, đã trở thành toàn cầu hóa”. Theo ông nhiều vấn đề cũng đang trở thành vấn nạn toàn cầu, không còn riêng của một nước nào: biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường, tội phạm trong môi trường mạng…. Bàn về thách thức đặt ra đối với việc lãnh đạo các trường đại học trong bối cảnh châu Á, theo Paul Chan Tuck Hoong (Malaysia): Trung Quốc mỗi năm có 7 triệu SV tốt nghiệp, 90% trong số đó không thể tìm được việc làm trên thị trường lao động ngoài nước, vì không chuẩn bị đầy đủ những kỹ năng sống còn của thế kỷ 21, như kỹ năng học tập (tư duy phản biện, tư duy trừu tượng, kỹ năng tìm kiếm thông tin và sử dụng công nghệ truyền thông), kỹ năng lãnh đạo, kỹ năng giao tiếp và hợp tác,…[22].2017, Bộ Giáo dục - Đào tạo và Trường ĐH Nguyễn Tất Thành tổ chức hội thảo quốc tế với chủ đề “Mô hình đại học 4.0 – Nền tảng giáo dục thế kỷ 21” với hơn 150 đại biểu tới từ nhiều quốc gia: Mỹ, Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha, Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan và Việt Nam.
Hội thảo là nơi các chuyên gia hàng đầu về giáo dục đại học chia sẻ tầm nhìn, ý tưởng, kinh nghiệm và giải pháp đổi mới giáo dục đại học [24]. Tại diễn đàn này, Gottfried Vossen, trường ĐH Muenster (Đức) – ĐH có tuổi đời 237 năm, chia sẻ: Cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 ảnh hưởng và tác động đến mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội. Các trường ĐH cũng không nằm ngoài sự tác động và ảnh hưởng của cuộc cách mạng này. Và Ông cũng chia sẻ thêm: theo kinh nghiệm của chúng tôi, CTĐT phải thay đổi như: game hóa bài giảng, huấn luyện kỹ năng, quản lý được số hóa; thành lập trung tâm nghiên cứu hệ thống thông tin châu Âu để thực hiện các dự án của doanh nghiệp đặt hàng và chọn 6 – 10 sinh viên thực hiện dự án; từ năm thứ 2 đã dạy sinh viên kiến thức khởi nghiệp.
Phạm Hoàng, ĐH Rutgers – một ĐH có tuổi đời 250 năm của Mỹ, cho biết: “Thực tế ở Mỹ chúng tôi ít nghe đến cái gọi là mô hình ĐH 4. Cái mà chúng tôi quan tâm đó là chất lượng, SV ra trường có được khách hàng (DN) sử dụng hay không.000 SV ra trường mỗi năm mà chỉ 20% có việc làm, thì ngay lập tức hiệu trưởng phải từ chức”. Ông Phạm Hoàng còn cho biết thêm: “Để có chất lượng, chúng tôi luôn cập nhật CTĐT mới nhất sau mỗi năm học. SV phải có kinh nghiệm, trải nghiệm từ các DN thông qua các đề tài nghiên cứu, đặt hàng”.
Vì vậy, Hoa Kỳ là quốc gia mà SV được tuyển chọn hỗ trợ khởi nghiệp trong 6 năm, nếu nghiên cứu có kết quả tốt sẽ được giữ lại cùng nhiều chế độ đãi ngộ khác. Điều này cũng lý giải vì sao Mỹ cũng là 8 quốc gia chiếm tới 60% các học giả, các trường ĐH đạt giải Nobel.