phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng I: Cơ sở lý luận về công tác quản lý đào tạo trình độ đại học hình thức vừa làm vừa học tại trƣờng Đại học Y tế công cộng Chƣơng II: Thực trạng công tác quản lý đào tạo trình độ đại học hình thức vừa làm vừa học tại trƣờng Đại học Y tế công cộng Chƣơng III: Biện pháp quản lý đào tạo trình độ đại học hình thức vừa làm vừa học tại trƣờng Đại học Y tế công cộng 5 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com CHƢƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG TÁC QUẢN LÝ ĐÀO TẠO TRÌNH ĐỘ ĐẠI HỌC HÌNH THỨC VỪA LÀM VỪA HỌC 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề Giáo dục đóng vai trò rất quan trọng trong xã hội, nó không thể tách rời với xã hội, hơn nữa GD và xã hội là một khối thống nhất mà nhƣ UNESCO đã cho rằng GD ở thế kỷ 21 là nền GD của xã hội học tập và học tập suốt đời cho mọi ngƣời. Quan điểm của Mác: Con ngƣời là thực thể tự nhiên, vừa là thực thể xã hội, bản chất của con ngƣời là tổng hòa các mối quan hệ xã hội. Học thuyết Mác – Ăng ghen bàn đến GD con ngƣời, về con ngƣời phát triển toàn diện.
Theo Các-Mác, trong xã hội tƣơng lai thế hệ trẻ phải đƣợc chuẩn bị cho việc GD kỹ thuật tổng hợp nhiều mặt, phải biết kết hợp GD đạo đức với thể dục, trí dục và lao động sản xuất. Sau này Lê- nin đã kế thừa tƣ tƣởng về con ngƣời phát triển toàn diện của Mác- Ăng ghen, nhƣng Lê- nin bổ sung thêm, con ngƣời phát triển toàn diện là con ngƣời phát triển nhiều mặt và biết làm mọi việc. Vấn đề đã trở thành cấp thiết và mang tính toàn cầu nhƣ nhận định của Philip Hall Coombs trong cuốn sách “Khủng hoảng giáo dục thế giới-một hệ thống Phân tích, Oxford University Press” xuất bản năm 1968, khi ông chỉ ra những vấn đề lớn của GD đƣơng đại, đó là: - Nhu cầu học tập của mọi ngƣời là rất lớn, hiện GD trung tâm không đủ đáp ứng nhu cầu này. - Học vấn mà ngƣời học đƣợc trung tâm trang bị (thậm chí cả trong trƣờng đại học) còn chƣa đáp ứng đƣợc yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
- Kiến thức học trong trung tâm còn quá ít ỏi và bị lạc hậu rất nhanh so với yêu cầu của sự phát triển. - Giáo dục không chính quy mới gợi ý cho GD thoát khỏi khủng hoảng đó.105] Năm 1972, Edgar Farue - Chủ tịch Ủy ban Quốc tế về phát triển GD (thuộc UNESCO) trong báo cáo với nhan đề “Học để tồn tại: thế giới GD 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com hôm nay và ngày mai” đã làm xoay chuyển nhận thức về GD, với các khái niệm quan trọng là “Học suốt đời” và “Tính phù hợp”. [21]Với việc đặt GD cho đối tƣợng ngƣời lớn tuổi trong khuôn khổ của GD suốt đời, khái niệm “xã hội học tập” đƣợc nhiều nhà GD lớn trên thế giới đƣa ra bàn luận và kết quả tất yếu là quan niệm về GD đã đƣợc mở rộng hơn: GD ngƣời lớn tại địa phƣơng phải đƣợc coi là bộ phận chủ yếu quan trọng cùng với trung tâm chính quy cung cấp cơ hội học tập suốt đời cho mọi ngƣời. Đây là định hƣớng cho cải cách GD giai đoạn này.
Giáo dục đại học đóng vai trò quan trọng trong việc đào tạo một nguồn nhân lực có trí tuệ, định hình nhân cách của những ngƣời lao động trong thời kỳ mới. Những GV tại các cơ sở GD đại học vừa là ngƣời truyền tải những tri thức của nhân loại vừa là tấm gƣơng đạo đức cho SV. Những GV đại học, hơn ai hết cần thực sự “vừa hồng vừa chuyên”. Họ cần đƣợc thƣờng xuyên đào tạo, bồi dƣỡng để bắt kịp với những tri thức hiện đại, có lập trƣờng tƣ tƣởng vững vàng thông qua những kế hoạch đào tạo dựa trên cơ sở phân tích năng lực của từng GV đƣợc cung cấp bằng những công cụ đánh giá khoa học và toàn diện.
Các tổ chức kiểm định chất lƣợng GD đại học trên thế giới thể hiện qua Hệ thống quốc tế của các cơ quan đảm bảo chất lƣợng GD đại học (International Network for Quality Asurance Agencies in Higher Education INQAAHE) đƣợc thành lập năm 1991 đồng ý rằng một trƣờng đại học chỉ có chất lƣợng khi mọi hoạt động trong trƣờng đều đạt tiêu chuẩn chất lƣợng, nghĩa là từ mọi cấp quản lý trong trƣờng, mọi hình thức đào tạo (chính quy, tại chức, chuyên tu.), mọi chƣơng trình đào tạo (ngoại ngữ, các lớp ngắn hạn, cao đẳng, đại học, trên đại học), mọi loại thu chi, mọi chƣơng trình nghiên cứu và phát triển (cấp trƣờng, cấp bộ, cấp quốc gia, cấp quốc tế), đến các dịch vụ SV, dịch vụ cộng đồng, các hợp đồng tƣ vấn, tất cả đều đạt tiêu chuẩn về chất lƣợng. Việc quản lý chất lƣợng đào tạo trong những năm qua đã đƣợc sự quan tâm của các nhà khoa học, nhiều nhà quản lý đặc biệt 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com là các trƣờng đại học, các viện nghiên cứu. Một số công trình đã đƣợc công bố trên các sách, báo, tạp chí. Cho đến nay, quản lý đào tạo đại học hình thức VLVH tại trƣờng Đại học vẫn còn tùy thuộc vào từng địa phƣơng, từng nhà trƣờng, từng ngành và chƣa mang tính thống nhất, tính pháp lý bắt buộc.
Trong những năm gần đây, có rất nhiều cơ sở GD tại Hà Nội đã tập trung nghiên cứu về các biện pháp quản lý đào tạo hình thức VLVH để nâng cao chất lƣợng đào tạo các lớp theo hình thức này nhƣ các luận văn thạc sỹ khoa học GD của các tác giả: - Vũ Duy Hiển (2013), “Quản lý quá trình đào tạo đại học vừa làm vừa học theo tiếp cận đảm bảo chất lượng”, Luận văn Tiến sĩ khoa học quản lý GD, Hà Nội. [23] - Bùi Đức Anh (2013), “Quản lý hoạt động đào tạo đại học hệ vừa làm vừa học tại Trường Đại học Kỹ thuật Công nghiệp Thái Nguyên”, Luận văn Thạc sĩ khoa học giáo dục, Hà Nội. [24] - Chu Văn Chiến (2007) “Biện pháp quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học của Trường ĐH SP HN nhằm đáp ứng nhu cầu chuẩn hóa của giáo viên phổ thông”, Luận văn Thạc sĩ khoa học quản lý GD, Hà Nội. [25] - Vũ Thị Gấm (2010) “Biện pháp quản lý quá trình đào tạo hệ vừa làm vừa học ở trường Cao đẳng Kinh tế Công nghiệp Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ GD học [26] - Nguyễn Thị Hƣơng Giang (2011)“Quản lý đào tạo đối với hệ vừa học vừa làm khoa ngoại ngữ, Viện Đại học Mở Hà Nội” : Luận văn Thạc sĩ GD học.
[27] - Phạm Hƣơng Giang (2011) “Biện pháp quản lý đào tạo Đại học hệ VLVH của trường Đại học Văn hóa Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ khoa học quản lý GD, Hà Nội. [28] - Kiều Hồng Hạnh (2013) “Biện pháp Quản lý hoạt động đào tạo hệ VLVH tại trường Đại học Luật Hà Nội” Luận văn Thạc sĩ khoa học quản lý GD, Hà Nội. [29] 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Lƣơng Thị Huyền (2013), “Biện pháp quản lý hoạt động đào tạo trình độ cao đẳng hệ vừa làm vừa học của trường Đại học Nội vụ Hà Nội”, Luận văn Thạc sĩ GD học, Hà Nội. [30] - Tô Thị Phƣơng Lan (2011) Quản lý đào tạo hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Điện lực, Luận văn Thạc sĩ GD học.
[31] - Nguyễn Đình Trung (2012) “Quản lý hoạt động đào tạo hệ vừa làm vừa học tại trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc Gia Hà Nội” Luận văn Thạc sĩ GD học [32] - Nguyễn Quốc Tuấn (2013) “Biện pháp quản lý đào tạo hệ VLVH ở Học viện tài chính”, Luận văn Thạc sĩ khoa học quản lý GD, Hà Nội [33] Các nghiên cứu đều nhằm mục đích chung xây dựng các biện pháp quản lý đào tạo hình thức vừa làm vừa học, công bố rộng rãi để thuyết phục chủ thể và khách thể của quá trình nghiên cứu tham gia hiệu quả vào việc nâng cao thƣờng xuyên chất lƣợng của hoạt động đào tạo bên cạnh đó còn có giá trị khoa học cả về lý luận và thực tiễn, phù hợp với công việc của các tác giả trong khi thực hiện nhiệm vụ, đồng thời cũng giúp cho các cơ sở GD khác tham khảo để vận dụng vào công tác quản lý của mình. Tuy nhiên cho đến nay chƣa có công trình nào nghiên cứu về Quản lý đào tạo trình độ đại học hình thức vừa làm vừa học tại Trường Đại học Y tế công cộng. Do vậy tôi chọn vấn đề này làm đề tài luận văn Thạc sĩ Quản lý giáo dục. Một số khái niệm liên quan đến nghiên cứu 1.
Đào tạo Trong Từ điển giáo dục học có ghi “Đào tạo thường được hiểu là quá trình chuyển giao có hệ thống, có phương pháp những kinh nghiệm, những tri thức, những kỹ năng, kỹ xảo nghề nghiệp, chuyên môn, đồng thời bồi dưỡng những phẩm chất đạo đức cần thiết để chuẩn bị tâm thế cho người học đi vào cuộc sống lao động tự lập và góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước” [13, tr. 76] 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Theo tác giả Nguyễn Minh Đƣờng: “Đào tạo là quá trình tác động có mục đích, có tổ chức nhằm hình thành và phát triển có hệ thống các tri thức, kỹ năng, kỹ xảo, thái độ… để hoàn thành nhân cách cho mỗi cá nhân, tạo tiền đề cho SV có thể vào đời hành nghề một cách năng suất và hiệu quả. 45] Nhƣ vậy đào tạo là các hoạt động truyền tải thông tin và dữ liệu từ ngƣời này (huấn luyện viên hoặc GV) sang ngƣời khác (học viên). Kết qủa là có sự thay đổi về kiến thức, kĩ năng và thái độ của học viên từ mức độ từ thấp đến mức độ cao.
Quản lý Quản lý đƣợc định nghĩa là một công việc mà một ngƣời lãnh đạo học suốt đời không thấy chán và cũng là sự khởi đầu của những gì họ nghiên cứu, quản lý đƣợc giải thích nhƣ là nhiệm vụ của một nhà lãnh đạo thực thụ, nhƣng không phải là sự khởi đầu để họ triển khai công việc nhƣ vậy, có bao nhiêu nhà lãnh đạo tài ba thì có bấy nhiêu kiểu định nghĩa và giải thích về quản lý. Ở những góc độ nghiên cứu khác nhau, học giả trong và ngoài nƣớc đã đƣa ra giải thích không giống nhau về quản lý, vẫn chƣa có một định nghĩa thống nhất về quản lý, đặc biệt là kể từ thế kỷ 21, các quan niệm về quản lý lại càng phong phú.