phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1. Cơ sở lí luận về quản lí hoạt động ĐGKQHT của học sinh theo TCNL tại các trƣờng THCS. Thực trạng hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh theo TCNL tại các trƣờng THCS huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ. Biện pháp quản lý hoạt động ĐGKQHT của HS theo tiếp cận NL tại các trƣờng THCS huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ.
7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC TẠI CÁC TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1. Tổng quan những vấn đề nghiên cứu 1. Tổng quan những nghiên cứu về ĐGKQHT 1. Tổng quan những nghiên cứu về năng lực Năng lực là vấn đề đƣợc nhiều nhà khoa học, khoa học giáo dục nghiên cứu và đề cập.
Theo quan điểm của GS. Nguyễn Cảnh Toàn: “NL là những thuộc tính tâm lý của cá nhân giúp cho việc con người lĩnh hội một lĩnh vực kiến thức hoạt động nào đó được dễ dàng và nếu họ tiến hành hoạt động trong lĩnh vực đó thì sẽ có kết quả cao”. Thái Duy Tuyên cho rằng: “NL là những đặc điểm tâm lý của nhân cách, là điều kiện chủ quan để thực hiện có kết quả một dạng hoạt động nhất định. NL có liên quan với kiến thức, kỹ năng, kỹ xảo.
NL thể hiện ở tốc độ, chiều sâu, tính bền vững và phạm vi ảnh hưởng của kết quả hoạt động, ở tính sáng tạo, tính độc đáo của phương pháp hoạt động”. Trên thế giới, quan niệm của Xavie Rogiers: “NL là một tập hợp hoặc tổng hợp những thuộc tính của cá nhân con người, đáp ứng những yêu cầu của hoạt động và đảm bảo cho hoạt động đạt được những kết quả cao”. Trong khoa học về xây dựng và phát triển CTGD, “NL có thể định nghĩa như là một khả năng hành động hiệu quả bằng sự cố gắng dựa trên nhiều nguồn lực. Những khả năng này được sử dụng một cách phù hợp, bao gồm tất cả những gì học được từ nhà trường cũng như những kinh nghiệm; những kĩ năng, thái độ và sự hứng thú; ngoài ra còn có những nguồn bên ngoài…” (CTGD Québec của Canada).
Đó là “một khả năng hành động hiệu quả hoặc là sự phản ứng thích đáng trong các tình huống phức tạp nào đó” (CTGD của New Zealand); “là những kiến thức (knowledge), kĩ năng (skills) và các giá trị (values) được phản ánh trong thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân. Thói quen tư duy và hành động kiên trì, liên tục có thể giúp một người trở nên có NL, với ý nghĩa làm một việc gì đó trên cơ sở có kiến thức, kĩ năng và các giá trị cơ bản” (CTGD của Indonesia). Từ góc độ xã hội học, Rycher quan niệm: “NL làm việc là khả năng đáp ứng các các yêu cầu hoặc tiến hành thành công một công việc. NL này bao gồm cả khía 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com cạnh nhận thức và phi nhận thức”.Winch và Foreman-Peck cho ràng, “NL làm việc là một hỗn hợp bao gồm các hành động, kiến thức, giá trị và mục đích thay đổi bối cảnh".
McLagan cho rằng “NL được hiểu là một tập hợp các kiến thức, thái độ, và kỹ năng hoặc các chiến lựơc tư duy mà tập hợp này là cốt lõi và quan trọng cho việc tạo ra những sản phẩm đầu ra quan trọng”… Các nhà khoa học đã chia NL thành các dạng thức khác nhau và theo đó cũng xuất hiện nhiều kiểu NL khác nhau. Tuy nhiên, phổ biến nhất vẫn là cách phân loại NL thành NL chung và NL riêng (còn gọi là NL chuyên biệt). Trên thế giới hầu hết các nhà giáo dục đều lựa chọn cách phân loại này: - NL chung (general competence): là NL cơ bản, thiết yếu để con ngƣời có thể sống và làm việc bình thƣờng trong xã hội. Năng lực này đƣợc hình thành và phát triển do nhiều môn học, liên quan đến nhiều môn học, do đó có nơi nó còn đƣợc gọi là NL xuyên chƣơng trình (Cross-curricular competencies).
Ngay NL chung cũng lại đƣợc chia làm 03 phạm trù rộng (three broad categories): NL sử dụng các công cụ tƣơng tác hiệu quả với môi trƣờng (use tools for acteracting effectively with the environment) ví nhƣ NL sử dụng công nghệ thông tin (information technology) hay NL sử dụng ngôn ngữ (the use of language); NL hoạt động tƣơng tác trong các nhóm phức hợp (interact in heterogenous groups); NL hoạt động một cách tự chủ (act autonomously). Năng lực sử Năng lực hoạt dụng ngôn động tƣơng tác ngữ/Năng lực sử trong các nhóm dụng công nghệ phức hợp thông tin Năng lực hoạt động một cách tự chủ - NL riêng (specik fic competence) là NL cụ thể, chuyên biệt, đƣợc hình thành và phát triển do một lĩnh vực/ môn học nào đó, vì thế CT Québec gọi là NL môn học cụ thể (Subject-specific competencies) để phân biệt với NL xuyên chƣơng trình - NL chung. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo quan điểm tiếp cận kết quả đầu ra (outcome based approach), các nhà nghiên cứu và QLGD cũng đã đề cập và tiến hành phân loại NL. Theo hƣớng này, Deborah Nusche (thuộc OECD) đã chia NL đầu ra thành: NL nhận thức (Cognitive outcomes) và NL phi nhận thức (Non-cognitive outcomes).
Trong đó: - NL nhận thức bao gồm những kiến thức liên quan đến từng lĩnh vực nghề nghiệp chuyên biệt và những kỹ năng lập luận và giải quyết vấn đề. hiện đang tồn tại nhiều hệ thống phân loại năng lực nhận thức. Các hệ thống phân loại này đa số dựa trên thang mục tiêu giáo dục của Bloom, trong đó nêu một khung các kết quả của việc giáo dục, từ những kiến thức và hiểu biết về thế giới đến những kỹ năng học thuật như ứng dụng, tổng hợp, phân tích, và đánh giá. - Trong khi đó, NL phi nhận thức là những thay đổi về niềm tin hoặc sự phát triển các giá trị.
NL phi nhận thức có thể được phát triển thông qua việc học tập ở trên lớp cũng như những hoạt động ngoài lớp học do nhà trường tổ chức để bổ sung cho chương trình học. Những hoạt động ngoại khóa hoặc “đồng khóa” (“co- curricula”, tức những hoạt động bắt buộc song song với việc lên lớp nhưng diễn ra bên ngoài lớp học) như hướng dẫn, học nhóm, tư vấn, quan hệ trực tiếp giữa giảng viên và sinh viên, câu lạc bộ, hoạt động thể dục thể thao và những hoạt động khác cho thấy nhà trường coi trọng việc phát triển những NL phi nhận thức để bổ sung cho việc học tập trên lớp học. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc (UNESCO), chia NL đầu ra thành 3 nhóm NL: - NL nhận thức (cognitive competencies): Những NL này đóng góp vào mục tiêu phát triển kiến thức cá nhân, đồng thời cũng là những yếu tố hỗ trợ giúp ta áp dụng thành công những kiến thức sẵn có. - NL thái độ (attitudinal competencies): Đó là các hành động, giá trị và chuẩn mực nhằm chỉ ra hoặc tạo ra hiệu suất cao, đồng thời cũng cho thấy các loại kiến thức khác nhau đã đƣợc ngƣời học phát triển một cách hữu hiệu nhƣ thế nào.
- NL nghề nghiệp (professional competencies): Kiến thức chuyên biệt (specialized knowledge) về các nguồn thông tin, khả năng tiếp cận, công nghệ, dịch vụ, quản lý, cùng khả năng đánh giá có phê phán một cách hiệu quả, chọn lọc và sử dụng kiến thức này để hoàn thành những công việc cụ thể và đạt đến những kết quả mong muốn. Mặc dù quan điểm tiếp cận vấn đề khác nhau, trong những phạm vi không giống nhau nhƣng nhìn chung các cách thức phân loại nêu trên đều chú trọng tới các 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com NL nghề nghiệp đặc thù mà mỗi ngƣời cần có để lao động trong một lĩnh vực ngành, nghề nào đó, bên cạnh những NL chung mà xã hội đòi hỏi ở mỗi cá nhân. Việc phân loại NL thành NL chung và riêng không chỉ có cơ sở triết học, giáo dục học, tâm lý học mà còn phù hợp với thực tiễn cuộc sống của mọi ngƣời. Và đây cũng chính là một trong những cơ sở khoa học cho các nghiên cứu tiếp theo về NL nghề nghiệp của ngƣời GV hiện nay và những năm tiếp theo.
ĐGKQHT trên thế giới Trên thế giới, vấn đề nghiên cứu, phát triển các lý thuyết và công cụ đánh giá đã đƣợc triển khai từ khá sớm. Chẳng hạn, năm 1936, Richardson đã nghiên cứu và đƣa ra lý thuyết khảo thí hiện đại.Bloom và đồng sự vào năm 1956, đã tiến hành phân loại mục tiêu giáo dục trong lĩnh vực nhận thức, nó có tác dụng quan trọng trong lí luận đánh giá giáo dục và hoàn thiện việc học tập Đồng thời quy định tiêu chuẩn tính điểm theo thang điểm 5. Đây là lần thử sớm nhất sử dụng phƣơng pháp khoa học nghiên cứu vấn đề đo lƣờng trong giáo dục.Linquist đã cho ra đời công trình nghiên cứu nổi tiếng là “The Impact of machenis on Educational Measuarement” do trƣờng đại học ở Chicago phát hành năm 1969. Thời kì này có nhiều công trình nghiên cứu phát triển rất nhanh và rộng lớn chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu những kĩ thuật cơ bản về đo lƣờng trong giáo dục.
Họ đi sâu vào làm rõ từng dạng câu hỏi trắc nghiệm và phân tích những ƣu và nhƣợc điểm của nó. Để khắc phục những hạn chế của hoạt động ĐGKQHT dựa trên nội dung, giáo dục phổ thông tại các nƣớc phát triển trong những năm gần đây đã chuyển sang đánh giá dựa trên NL của HS. Năng lực đƣợc hiểu là khả năng giải quyết một công việc nào đó không phải chỉ trong sách vở mà phải trong đời sống thực tiễn và không chỉ quan tâm đến mức độ đạt đƣợc cao hay thấp mà cả về chất lƣợng nữa. Khác với đánh giá dựa trên nội dung, trong đánh giá dựa trên NL, HS phải nói và làm đƣợc theo đúng nguyên tắc bảo đảm “Học đi đôi với hành”.
Để thể hiện NL, HS phải huy động tổng hợp các yếu tố nhƣ kiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng sẵn có, thái độ, động cơ và tình cảm của mình đối với công việc đó cũng nhƣ khả năng thích ứng với sự thay đổi của môi trƣờng, đƣa ra những sáng tạo cần thiết trong từng bối cảnh, tình huống cụ thể. Một trong những sự khác biệt của đánh giá dựa trên NL so với đánh giá dựa trên nội dung là đánh giá dựa trên NL không chú trọng đến việc so sánh kết quả học tập đạt đƣợc giữa các HS với nhau (nguyên nhân của sự ganh đua không 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.