Quản lý đánh giá kết quả học tập học sinh THCS Ba Chẽ theo CT GDPT 2018

Nghiên cứu thực trạng và đề xuất giải pháp quản lý đánh giá kết quả học tập của học sinh THCS huyện Ba Chẽ, đáp ứng yêu cầu CT GDPT 2018.

Chuyên ngành

Quản lý giáo dục

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục

2023

122
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Khái niệm và tầm quan trọng của quản lý đánh giá học sinh THCS

Quản lý đánh giá kết quả học tập là một trong những hoạt động quản lý giáo dục then chốt tại các trường THCS Ba Chẽ. Theo Chương trình giáo dục phổ thông 2018, quản lý hoạt động đánh giá học sinh không chỉ nhằm kiểm tra kiến thức mà còn đánh giá toàn diện năng lực của học sinh. Tầm quan trọng của quản lý đánh giá học sinh THCS nằm ở việc cung cấp thông tin chính xác để hỗ trợ quá trình dạy học, giúp giáo viên điều chỉnh phương pháp giảng dạy phù hợp. Đồng thời, nó giúp học sinh, phụ huynh hiểu rõ tiến độ học tập và từ đó có những điều chỉnh kịp thời. Quản lý đánh giá học sinh theo CTGDPT 2018 cần được thực hiện một cách khoa học, công khai và minh bạch.

1.1. Định nghĩa quản lý đánh giá kết quả học tập

Quản lý đánh giá kết quả học tập là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn và kiểm tra các hoạt động đánh giá học sinh. Theo CTGDPT 2018, đánh giá phải bao gồm cả đánh giá thường xuyên, đánh giá định kỳđánh giá cuối cấp. Mục tiêu chính là phát hiện năng lực, ưu điểm và hạn chế của học sinh để cải thiện chất lượng dạy học.

1.2. Vai trò của đánh giá trong CTGDPT 2018

Trong CTGDPT 2018, đánh giá học sinh đóng vai trò then chốt trong việc theo dõi sự phát triển toàn diện của học sinh. Quản lý hoạt động đánh giá giúp xác định hiệu quả của quá trình dạy học, cung cấp dữ liệu để cải tiến chương trình giảng dạy và hỗ trợ quyết định nâng cao chất lượng giáo dục tại các trường THCS.

II. Các nguyên tắc và hình thức đánh giá học sinh THCS Ba Chẽ

Quản lý đánh giá học sinh THCS tại Ba Chẽ phải tuân thủ các nguyên tắc cơ bản được quy định trong CTGDPT 2018. Các nguyên tắc này bao gồm: tính khách quan, công bằng, toàn diện, và xây dựng. Đánh giá phải khách quan và công bằng để đảm bảo kết quả phản ánh đúng năng lực học sinh. Hình thức đánh giá được áp dụng tại các trường THCS Ba Chẽ bao gồm đánh giá định tính, định lượng, và kết hợp cả hai. Phương pháp đánh giá cần đa dạng như: quan sát, phỏng vấn, kiểm tra, làm bài tập, dự án học tập. Việc áp dụng đúng các nguyên tắc và hình thức này giúp quản lý đánh giá học sinh trở nên hiệu quả và minh bạch.

2.1. Các nguyên tắc đánh giá theo CTGDPT 2018

Nguyên tắc khách quan đòi hỏi kết quả đánh giá phải dựa trên dữ liệu thực tế, không chịu ảnh hưởng của chủ quan. Nguyên tắc toàn diện yêu cầu đánh giá không chỉ kiến thức mà còn kỹ năng, thái độ, năng lực. Nguyên tắc công khai đảm bảo minh bạch trong quá trình và kết quả đánh giá học sinh.

2.2. Hình thức và phương pháp đánh giá tại THCS Ba Chẽ

Tại THCS Ba Chẽ, hình thức đánh giá bao gồm đánh giá thường xuyên trong quá trình học, đánh giá định kỳ theo cuối học kỳ và đánh giá cuối cấp. Phương pháp đánh giá sử dụng bài kiểm tra, bài tập về nhà, dự án nhóm, và quan sát hành vi học tập. Sự đa dạng này giúp quản lý đánh giá học sinh có độ tin cậy cao.

III. Quy trình quản lý đánh giá kết quả học tập học sinh THCS

Quy trình quản lý đánh giá kết quả học tập tại các trường THCS Ba Chẽ bao gồm nhiều bước liên tiếp. Đầu tiên là xác định mục tiêu đánh giá rõ ràng dựa trên chuẩn kiến thức kỹ năng của CTGDPT 2018. Tiếp theo là lựa chọn nội dung đánh giá phù hợp với những gì đã dạy. Bước thứ ba là chọn phương pháp và công cụ đánh giá thích hợp. Sau đó là thực hiện đánh giá theo kế hoạch đã lập. Bước cuối cùng là phân tích, xử lý kết quảcông bố kết quả cho học sinh, phụ huynh. Quy trình này đảm bảo quản lý đánh giá học sinh được tiến hành một cách có hệ thống và khoa học.

3.1. Giai đoạn chuẩn bị và lập kế hoạch đánh giá

Giai đoạn chuẩn bị bắt đầu với việc xác định mục tiêu đánh giá cụ thể, đo lường và có thể đạt được. Giáo viên cần lựa chọn nội dung dạy học cần đánh giá, phù hợp với thời gian và năng lực học sinh. Lập kế hoạch đánh giá chi tiết bao gồm thời gian, địa điểm, phương pháp và các tiêu chí đánh giá.

3.2. Giai đoạn thực hiện và xử lý kết quả đánh giá

Thực hiện đánh giá cần tuân thủ kế hoạch đã lập, đảm bảo môi trường công bằng cho tất cả học sinh. Sau khi thu thập dữ liệu, giáo viên cần phân tích kết quả để hiểu rõ điểm mạnh, điểm yếu của học sinh. Công bố kết quả phải khách quan, xây dựng và hữu ích để giúp học sinh cải thiện.

IV. Những yếu tố ảnh hưởng đến quản lý đánh giá học sinh THCS Ba Chẽ

Quản lý đánh giá kết quả học tập tại các trường THCS Ba Chẽ chịu ảnh hưởng từ nhiều yếu tố khác nhau. Năng lực của người quản lý giáo dục là yếu tố then chốt - họ cần có kiến thức sâu về CTGDPT 2018 và kỹ năng quản lý. Chất lượng đội ngũ giáo viên ảnh hưởng trực tiếp đến cách thức thực hiện đánh giá. Mong muốn và hỗ trợ của phụ huynh giúp tạo môi trường tích cực cho đánh giá. Cơ sở vật chất, trang thiết bị cung cấp điều kiện thực hiện. Chủ trương của Đảng và Nhà nước về giáo dục đòi hỏi tuân thủ các quy định mới. Sự kết hợp hài hòa của tất cả các yếu tố này đảm bảo quản lý đánh giá học sinh hiệu quả và bền vững.

4.1. Năng lực con người và cơ sở vật chất

Năng lực quản lí giáo dục của hiệu trưởng, hiệu phó ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng quản lý đánh giá học sinh. Chất lượng giáo viên - kiến thức, kỹ năng, trách nhiệm - quyết định mức độ thực hiện đánh giá. Cơ sở vật chất như phòng học, thiết bị dạy học, công nghệ thông tin hỗ trợ quá trình đánh giá hiệu quả.

4.2. Chính sách giáo dục và mong muốn cộng đồng

Chủ trương, chính sách của Nhà nước về giáo dục và quy định của Bộ GD&ĐT tạo khung pháp lý cho quản lý đánh giá học sinh. Mong muốn của cha mẹ học sinh và sự tham gia của cộng đồng giúp tạo sự đồng thuận, hỗ trợ quá trình đánh giá và phát triển học sinh toàn diện.

18/12/2025
Quản lý hoạt động đánh giá kết quả học tập của học sinh trung học cơ sở huyện ba chẽ tỉnh quảng ninh đáp ứng yêu cầu của chương trình giáo dục phổ thông 2018

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Trên thế giới Tác giả Benjamin S. Bloom khi nghiên cứu về lý luận ĐG giáo dục trong cuốn “Nguyên tắc phân loại mục tiêu giáo dục: Lĩnh vực nhận thức” [8] đã đưa ra cách phân loại nhận thức thành 6 cấp độ nhận thức: Biết, hiểu, vận dụng, phân tích, tổng hợp, ĐG.

Gronlund nghiên cứu “Measurement and Evaluation in Teaching” (Đo lường và ĐG trong dạy học) xây dựng nguyên tắc và quy trình ĐG trong dạy học nhằm nâng cao hiệu quả dạy học của giáo viên. Tác giả cho rằng đối tượng mà công tác ĐG và đo lường sư phạm chính là năng lực của người học. Trong giáo dục, nếu không thể ĐG được các năng lực của người học thì việc ĐG chỉ có tính hình thức và đã vi phạm các nguyên tắc trong ĐG [33].Macintosh khi hướng dẫn giáo viên tiến hành ĐG năng lực học sinh như thế nào, lập kế hoạch tiến hành ĐG, cách thức cho điểm, cách thức nhận xét học sinh,. Có thể nói công trình là tài liệu gợi mở cho các nhà quản lý giáo dục trong tiếp cận quản lý hoạt động ĐG học sinh [36].

Bổ sung quan điểm của nhóm tác giả D.Macintosh, tác giả Anthony J.Nitko trong cuốn “Educational Assessment of Students” đề cao vai trò của người đứng đầu nhà trường trong việc quản lý ĐG học sinh khi cho rằng ĐG học sinh là trách nhiệm của người Hiệu trưởng. Ngoài ra tác giả còn bổ sung thêm các nội dung của ĐG học sinh như xây dựng kế hoạch 6 giảng dạy kết hợp với ĐG; xây dựng các tiêu chí ĐG về mục tiêu, hiệu quả; ĐG học sinh [33].Tyler [37], một trong những người nghiên cứu chuyên sâu về ĐG , là người đầu tiên đưa ra khái niệm ĐG giáo dục. Ông cho rằng ĐG chính là quy trình ĐG sự tiến bộ của người học so với các mục tiêu đã đặt ra. Tác giả Jody Zall Kusek, Ray C.Rist nghiên cứu cụ thể về quản lý hoạt động ĐG học sinh trong công trình “Mười bước tiến tới hệ thống giám sát và ĐG dựa trên kết quả”.

Tác giả đề xuất các nghiệp vụ quản lý mà cán bộ quản lý cần làm để quản lý hoạt động ĐG học sinh một cách hiệu quả [21]. Val Brooks (2002) [35] trong nghiên cứu ĐG ở trường THCS đã đặt ra yêu cầu cần có các chính sách hỗ trợ cho công tác ĐG học sinh của giáo viên cũng như các khâu của quá trình ĐG như cách lưu giữ và cách viết báo cáo ĐG. Tại Anh, công tác ĐG học sinh được thực hiện bởi QAA - Cơ quan kiểm định chất lượng giáo dục. Để thực hiện việc kiểm định giáo dục, cơ quan này đã xây dựng 15 quy tắc ĐG bao gồm các quyền, nghĩa vụ của các đơn vị ĐG KQHT.

Bộ quy tắc này giúp cho các hoạt động ĐG KQHT của học sinh được công bằng, chính xác và minh bạch. Tại Mỹ, Việc ĐG người học do Uỷ ban kiểm định chất lượng giáo dục tại các trường đại học Mỹ đảm nhiệm. Mục tiêu ĐG người học mà cơ quan này hướng tới là sự dân chủ, công khai các tiêu chuẩn, tiêu chí ĐG. Năng lực của người học được ĐG bằng nhiều hình thức như bài KT trên giấy hoặc thông qua việc người học thực hiện nhiệm vụ trong các xưởng trường, vườn trường, công xưởng, nhà máy hay các công việc đảm nhiệm theo các chuyên ngành đào tạo… 1.

Ở Việt Nam Hai tác giả Hoàng Đức Nhuận và Lê Đức Phúc là những người Việt Nam đầu tiên tiếp cận lý luận ĐG học sinh. Các học giả đã nghiên cứu về “Cơ sở lý luận của việc ĐG chất lượng học tập của học sinh phổ thông”. Các nghiên cứu đã đề cập tới các thuật ngữ về ĐG giáo dục cũng như những yêu cầu về nội dung và kỹ thuật ĐG [25]. 7 Các nghiên cứu của các tác giả như tác giả Trần Bá Hoành nghiên cứu “ĐG trong giáo dục” [17]; Tác giả Đặng Bá Lãm nghiên cứu “ĐG trong giáo dục Đại học” [22], tác giả Nguyễn Đức Chính nghiên cứu “Đo lường, ĐG KQHT của học sinh” [11].

đã giúp độc giả có kiến thức cơ bản về ĐG trong giáo dục. Song việc vận dụng các phương pháp, kỹ thuật ĐG KQHT của học sinh mang tính chất phổ biến trên thế giới nhưng việc áp dụng vào Việt Nam vẫn còn rất hạn chế. Theo Nguyễn Thành Ngọc Bảo [3], nghiên cứu Bước đầu nghiên cứu khái niệm ĐG theo năng lực và đề xuất một số hình thức ĐG năng lực ngữ văn của HS. Tác giả khẳng định “Việc ĐG không chỉ dừng lại ở vận dụng kiến khả năng vận dụng kiến thức, kỹ năng và thái độ của HS để thực hiện nhiệm vụ học tập theo một chuẩn nhất định mà ĐG hướng tới mục đích cao hơn là ĐG các nhiệm vụ ở trình độ vận dụng cao như phân tích, tổng hợp của HS Do vậy, ĐG năng lực HS chủ yếu là ĐG dựa trên hoạt động thực hiện và áp dụng kiến thức vào thực tế của HS” Tác giả Nguyễn Công Khanh và các cộng sự đã nghiên cứu “ĐG trong giáo dục”, trong đó tác giả chú trọng cách ĐG HS theo định hướng phát triển năng lực -đây là một trong những định hướng mà cách đánh giá KQHT của HS mà CTGDPT 2018 hướng tới.

Đây là cuốn sách có giá trị rất lớn trong bối cảnh đổi mới hoạt động, ĐG theo định hướng phát triển năng lực trong các nhà trường trong giáo dục hiện nay [20] Các tác giả Nguyễn Thị Lan Phương, Dương Văn Hưng, Nguyễn Đức Minh và Nguyễn Lê Thạch [26] đã đưa ra đề xuất khung ĐG KQHT với 6 thành tố: (i) Nguyên tắc ĐG, (ii) Nội dung ĐG, (iii) Hình thức ĐG, (iv) Cách thức ĐG, (v) Báo cáo sự phát triển và thành tích học tập, (vi) Sử dụng ĐG để cải thiện chất lượng GD; cuối cùng, sử dụng khung ĐG để: (i) Hỗ trợ tác giả chương trình biên soạn định hướng ĐG năng lực qua môn học, (ii) Hỗ trợ Hiệu trưởng, giáo viên phát triển chương trình nhà trường và thực hiện các hoạt động 8 dạy học, học tập, ĐG người học, (iii) Hỗ trợ cơ quan quản lý chỉ đạo ĐG học sinh và giám sát thực hiện chuẩn đầu ra của chương trình. Bộ GD&ĐT phát hành cuốn “Tài liệu tập huấn dạy học và ĐG KQHT theo định hướng phát triển năng lực(phát triểnnăng lực) học sinh cấp THCS” [4] đưa ra các yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và ĐG KQHT theo định hướng phát triển năng lực của học sinh Nghiên cứu về quản lý hoạt động ĐG học sinh có một số công trình tiêu biểu như sau: Trần Đăng An [1] cho rằng quản lý hoạt động ĐG KQHT của học sinh bao gồm các bước như: Xây dựng kế hoạch; tổ chức thực hiện kế hoạch; chỉ đạo hoạt động, công tác kiểm tra hoạt động; đảm bảo các điều kiện hỗ trợ hoạt động. Tác giả Trịnh Khắc Thẩm nghiên cứu vấn đề Đổi mới phương pháp dạy- học và ĐG - giải pháp hàng đầu để nâng cao chất lượng đào tạo đặt ra yêu cầu đối với việc nâng cao chất lượng quản lý ở nhà trường nói chung và hoạt động quản lý ĐG KQHT của HS nói riêng là năng lực về tư duy, nhận thức, phương pháp, cách thực hoạt động,…của nhà quản lý [31] Tác giả Trần Ngọc Lan [23] trong nghiên cứu ĐG HS tiểu học theo hướng tiếp cận năng lực khẳng định tính nghiêm túc, tính không thách đố, không tạo áp lực cho các đối tượng ĐG KQHT (như HS, cha mẹ HS) trong quá trình việc tổ chức ĐGKQHT. Việc tổ chức ĐG KQHT cần mang tính khách quan, đúng với năng lực và phẩm chất mà HS đạt được, không “bẻ cong” chạy theo thành tích hay tâm lí của cha mẹ HS.

Có thể kể đến một số nghiên cứu về quản lý ĐG KQHT của học sinh như: Lê Thị Mỹ Hà với Xây dựng quy trình ĐG KQHT của học sinh THCS [14]. Tác giả Nguyễn Hữu Hoán nghiên cứu quản lý ĐG học sinh THCS ở Huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh [18]; Tác giả Đặng Thị Ánh Tuyết nghiên cứu quản lý hoạt động ĐG KQHT của học sinh theo tiếp cận năng lực tại trường THCS Phương Đông, Uông Bí, Quảng Ninh quản lý giáo dục [32]. 9 Khái quát lại, tổng quan một số công trình như trên chúng tôi thấy được mức độ quan tâm của các học giả về vấn đề ĐG KQHT của học sinh và quản lý hoạt động ĐG KQHT của học sinh ở trường phổ thông dưới nhiều góc độ khác nhau. Đây là những tài liệu quý giá để tác giả tham khảo, kế thừa và phát triển trong luận văn của mình.

Một số khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lý giáo dục *Quản lý F.W Taylor cho rằng: “quản lý là biết chính xác điều muốn người khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [15, tr.Koontz thì cho rằng: “quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức). Mục tiêu của nhà quản lý là hình thành một môi trường mà trong đó con người có thể đạt được mục đích của nhóm với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất” [15, tr. Từ điển tiếng Việt định nghĩa “ quản lý là tổ chức và điều khiển các hoạt động theo những yêu cầu nhất định” [34].

Tác giả Đặng Vũ Hoạt, Hà Thế Ngữ khẳng định: "quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn" [2424]. Tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc cho rằng: “quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức đó vận hành và đạt được mục đích của mình” [10]. Mặc dù có những cách diễn đạt khác nhau, song các quan niệm nêu trên đều thống nhất quản lý bao gồm các yếu tố sau: 10 - Chủ thể quản lý: Là tác nhân tạo ra các tác động quản lý.

Chủ thể có thể là cá nhân hoặc tổ chức. Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ, hình thức và phương pháp thích hợp, cần thiết và dựa trên cơ sở những nguyên tắc nhất định.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ