Chương I: Tổng Quan Về Quản Lý Công Ty Cổ Phần Theo Quy Định Của Pháp Luật Việt Nam

Tìm hiểu tổng quan về quản lý công ty cổ phần theo quy định pháp luật Việt Nam, các quy định và yêu cầu cần thiết cho doanh nghiệp.

Chuyên ngành

Quản Trị Kinh Doanh Chuyên Ngành Luật Kinh Doanh Quốc Tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2010

103
3
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI MỞ ĐẦU

1. CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN

1.1. Giới thiệu chung về CTCP

1.2. Quá trình hình thành và phát triển của CTCP

1.3. Khái niệm và đặc điểm của CTCP

1.4. Đặc điểm của CTCP

1.5. Những ưu thế của CTCP

1.6. Tổng quan về quản lý CTCP theo quy định của Pháp Luật Việt Nam

1.7. Khái niệm quản lý CTCP

1.8. Đặc trưng của việc quản lý CTCP

1.9. Trọng tâm của quản lý CTCP

1.10. Nguồn luật điều chỉnh việc quản lý CTCP ở Việt Nam

1.10.1. Các văn bản luật và dưới luật do nước CHXHCN Việt Nam ban hành

1.10.2. Các Điều ước quốc tế

1.11. Khái quát chung về quản lý CTCP theo quy định của LDNVN 2005

1.12. Đại hội đồng cổ đông

1.13. Hội đồng quản trị

1.14. Giám đốc hoặc Tổng giám đốc

1.15. Ban Kiểm soát

1.16. Tham khảo mô hình quản lý CTCP theo quy định của một số nước trên thế giới

1.16.1. Mô hình quản lý CTCP của Nhật Bản

1.16.2. Mô hình quản lý CTCP của Đức

1.16.3. Mô hình quản lý CTCP ở Mỹ

1.17. Bình luận các mô hình quản lý CTCP trên thế giới và mối liên hệ của chúng tới mô hình quản lý CTCP ở Việt Nam

2. CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN THEO QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY

2.1. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về cổ đông

2.1.1. Cổ đông sáng lập

2.1.2. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về các quyền của cổ đông nói chung

2.1.2.1. Quyền dự họp ĐHĐCĐ
2.1.2.2. Quyền biểu quyết
2.1.2.3. Quyền bổ, miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên HĐQT và kiểm soát viên
2.1.2.4. Quyền tiếp cận thông tin
2.1.2.5. Quyền khởi kiện của cổ đông

2.1.3. Thực trạng bảo vệ các cổ đông thiểu số

2.1.4. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về nghĩa vụ của các cổ đông

2.2. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về cuộc họp ĐHĐCĐ

2.2.1. Về loại hình và thẩm quyền triệu tập họp ĐHĐCĐ

2.2.2. Về việc triệu tập họp ĐHĐCĐ

2.2.3. Về chương trình và nội dung họp ĐHĐCĐ

2.2.4. Về điều kiện tiến hành họp

2.2.5. Về việc thông qua quyết định của ĐHĐCĐ

2.3. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về HĐQT

2.3.1. Sự xác lập địa vị trung tâm của HĐQT trong cơ cấu quản lý CTCP

2.3.2. Tiêu chuẩn, số lượng thành viên HĐQT

2.3.3. Về quyền và nghĩa vụ của thành viên HĐQT

2.3.4. Về quyền của các thành viên HĐQT

2.3.5. Nghĩa vụ của các thành viên HĐQT

2.3.6. Trách nhiệm pháp lý của các thành viên HĐQT

2.3.7. Cuộc họp HĐQT

2.4. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về Giám đốc/Tổng giám đốc

2.4.1. Khái niệm, địa vị và trách nhiệm pháp lý của GĐ/TGĐ trong CTCP

2.4.2. Quyền và nhiệm vụ của GĐ/TGĐ

2.4.3. Sự phân nhiệm giữa TGĐ và Chủ tịch HĐQT

2.5. Thực trạng điều chỉnh pháp luật về Ban Kiểm Soát

2.5.1. Địa vị pháp lý của BKS

2.5.2. Cơ chế bổ nhiệm thành viên BKS

2.5.3. Quyền và nhiệm vụ của BKS

2.6. Một số thực trạng khác trong quản lý CTCP hiện nay

2.6.1. Nhìn lại chế độ quản lý nội bộ của DNNN và ảnh hưởng của nó tới thực trạng quản lý các công ty cổ phần hóa từ DNNN

2.6.2. Thực trạng kiểm soát các giao dịch của công ty với các bên có liên quan

2.6.3. Thực trạng điều chỉnh các quy định pháp luật về thỏa thuận giữa các cổ đông với nhau và giữa cổ đông với công ty

3. CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN

3.1. Nhận xét chung về thực trạng quản lý CTCP tại Việt Nam hiện nay

3.1.1. Những thành công

3.1.2. Những khó khăn

3.1.3. Những yêu cầu về việc tiếp tục hoàn thiện các quy định về quản lý CTCP

3.2. Một số giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về quản lý CTCP ở Việt Nam

3.2.1. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về cổ đông

3.2.1.1. Về quyền thành lập CTCP một cổ đông
3.2.1.2. Về quyền dự họp ĐHĐCĐ
3.2.1.3. Về quyền ưu đãi biểu quyết
3.2.1.4. Về quyền tiếp cận thông tin
3.2.1.5. Về quyền khởi kiện của cổ đông
3.2.1.6. Về cơ cấu cổ đông trong CTCP
3.2.1.7. Về việc bảo vệ quyền lợi của các cổ đông thiểu số

3.2.2. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về cuộc họp ĐHĐCĐ

3.2.3. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về HĐQT

3.2.4. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về GĐ/TGĐ

3.2.5. Giải pháp hoàn thiện các quy định về việc minh bạch hóa các thỏa thuận giữa các cổ đông với nhau và giữa cổ đông với công ty

3.2.6. Giải pháp hoàn thiện các quy định pháp luật về BKS

3.2.7. Giải pháp hoàn thiện mô hình quản lý CTCP qua tham khảo mô hình quản lý CTCP của Nhật Bản

3.2.8. Một số giải pháp khác

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Tổng quan về Quản Lý Công Ty Cổ Phần Tại Việt Nam

Quản lý công ty cổ phần (CTCP) tại Việt Nam đang trở thành một chủ đề nóng trong bối cảnh nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển. CTCP là một trong những loại hình doanh nghiệp phổ biến, đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư và phát triển kinh tế. Tuy nhiên, thực trạng quản lý CTCP hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề cần được giải quyết. Việc hiểu rõ về cơ cấu quản lý và các quy định pháp luật liên quan là rất cần thiết để nâng cao hiệu quả hoạt động của các công ty này.

1.1. Khái niệm và Đặc điểm của Công Ty Cổ Phần

CTCP là loại hình doanh nghiệp có vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Cổ đông có thể là tổ chức hoặc cá nhân, với số lượng tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa. Đặc điểm này cho phép CTCP thu hút nhiều nguồn vốn và phân tán rủi ro cho các cổ đông.

1.2. Vai trò của Công Ty Cổ Phần trong Kinh Tế Việt Nam

CTCP đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế của Việt Nam, đặc biệt trong việc tạo ra việc làm và thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Sự phát triển của CTCP cũng giúp nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế quốc gia trong bối cảnh hội nhập quốc tế.

II. Thực Trạng Quản Lý Công Ty Cổ Phần Tại Việt Nam Hiện Nay

Thực trạng quản lý CTCP tại Việt Nam hiện nay cho thấy nhiều vấn đề tồn tại, từ cơ chế quản lý đến việc thực thi các quy định pháp luật. Nhiều công ty vẫn chưa thực hiện đúng các quy định về quyền lợi của cổ đông, dẫn đến xung đột lợi ích và thiếu minh bạch trong quản lý. Điều này ảnh hưởng đến sự phát triển bền vững của CTCP.

2.1. Vấn Đề Quyền Lợi Cổ Đông Trong Quản Lý

Nhiều cổ đông, đặc biệt là cổ đông thiểu số, gặp khó khăn trong việc thực hiện quyền lợi của mình. Các quy định về quyền dự họp, quyền biểu quyết và quyền tiếp cận thông tin vẫn chưa được thực thi đầy đủ, dẫn đến sự bất bình đẳng trong quản lý.

2.2. Thách Thức Trong Quản Lý Tài Chính và Nhân Sự

Quản lý tài chính và nhân sự trong CTCP cũng gặp nhiều thách thức. Việc kiểm soát rủi ro tài chính và quản lý nhân sự hiệu quả là rất cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững của công ty.

III. Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quản Lý Công Ty Cổ Phần Tại Việt Nam

Để nâng cao hiệu quả quản lý CTCP, cần có những giải pháp đồng bộ từ việc hoàn thiện các quy định pháp luật đến việc cải thiện cơ chế quản lý nội bộ. Các giải pháp này không chỉ giúp bảo vệ quyền lợi của cổ đông mà còn nâng cao tính minh bạch và trách nhiệm trong quản lý.

3.1. Hoàn Thiện Quy Định Pháp Luật Về Cổ Đông

Cần sửa đổi, bổ sung các quy định pháp luật để bảo vệ quyền lợi của cổ đông, đặc biệt là cổ đông thiểu số. Việc này sẽ giúp tăng cường tính minh bạch và công bằng trong quản lý CTCP.

3.2. Tăng Cường Đào Tạo và Nâng Cao Năng Lực Quản Lý

Đào tạo và nâng cao năng lực cho đội ngũ quản lý là rất quan trọng. Các chương trình đào tạo cần tập trung vào quản lý tài chính, quản lý nhân sự và quản trị rủi ro để nâng cao hiệu quả hoạt động của CTCP.

IV. Ứng Dụng Thực Tiễn và Kết Quả Nghiên Cứu Về Quản Lý CTCP

Nghiên cứu thực tiễn về quản lý CTCP cho thấy nhiều công ty đã áp dụng các mô hình quản lý tiên tiến, giúp nâng cao hiệu quả hoạt động. Việc áp dụng các mô hình quản lý này không chỉ giúp cải thiện hiệu suất mà còn tạo ra giá trị bền vững cho cổ đông.

4.1. Mô Hình Quản Lý Hiện Đại Trong CTCP

Nhiều CTCP đã áp dụng mô hình quản lý hiện đại, kết hợp giữa quản lý truyền thống và công nghệ thông tin. Điều này giúp tối ưu hóa quy trình làm việc và nâng cao hiệu quả quản lý.

4.2. Kết Quả Nghiên Cứu Về Quản Lý CTCP Tại Việt Nam

Các nghiên cứu cho thấy rằng việc cải thiện quản lý CTCP đã giúp tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận, đồng thời nâng cao sự hài lòng của cổ đông. Điều này chứng tỏ rằng quản lý hiệu quả là yếu tố quyết định cho sự thành công của CTCP.

V. Kết Luận và Tương Lai Của Quản Lý Công Ty Cổ Phần Tại Việt Nam

Quản lý CTCP tại Việt Nam đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức. Việc cải thiện các quy định pháp luật và nâng cao năng lực quản lý sẽ là yếu tố quyết định cho sự phát triển bền vững của CTCP trong tương lai. Cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan quản lý nhà nước và các doanh nghiệp để tạo ra môi trường kinh doanh thuận lợi.

5.1. Triển Vọng Phát Triển CTCP Tại Việt Nam

Với sự phát triển của nền kinh tế và hội nhập quốc tế, CTCP có triển vọng phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, cần có những chính sách hỗ trợ và khuyến khích để thúc đẩy sự phát triển này.

5.2. Định Hướng Cải Cách Quản Lý CTCP

Định hướng cải cách quản lý CTCP cần tập trung vào việc nâng cao tính minh bạch, bảo vệ quyền lợi cổ đông và phát triển bền vững. Các giải pháp này sẽ giúp CTCP phát triển mạnh mẽ hơn trong tương lai.

24/07/2025
Chương i tổng quan về quản lý công ty cổ phần theo quy định của pháp luật việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TY CỔ PHẦN I. Giới thiệu chung về CTCP 1. Quá trình hình thành và phát triển của CTCP Trên thế giới, CTCP đã ra đời và phát triển từ rất sớm, góp phần quan trọng cho sự nghiệp phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Một số học giả cho rằng, Công ty Đông Ấn Anh Quốc thành lập ngày 31/10/1600 và Công ty Đông Ấn Hà Lan là tổ tiên của CTCP hiện đại.

Theo khảo cứu, Pháp là quốc gia đầu tiên trên thế giới công nhận CTCP về mặt pháp lý. Chế độ CTCP được quy định trong Bộ Luật Thương mại Pháp năm 1807 (Bộ Luật Napoleon), theo đó CTCP tồn tại dưới loại hình société en commandite par actions (Công ty giao vốn), cho phép những người không tham gia vào việc quản lý công ty được hưởng chế độ trách nhiệm hữu hạn. Ở Mỹ, CTCP cũng ra đời từ sớm và phát triển rất mạnh. Lúc đầu là để phục vụ cho việc xây dựng đường sắt, sau là để thiết lập mạng lưới phân phối và bán lẻ trên toàn lãnh thổ Mỹ.

Chính từ yêu cầu tài trợ cho các công ty xây dựng đường sắt mà thị trường chứng khoán ở New York đã phát triển. Năm 1811, bang New York đã ban hành luật về tính trách nhiệm hữu hạn dành cho các công ty sản xuất. Nhờ có luật này, tiền ùn ùn đổ về New York và tính hữu hạn đó trở thành phổ biến bởi vì bang nào không dùng đến nó thì không thu hút được vốn. Từ sự phát triển kinh tế của Mỹ, các nước Châu Âu thấy cần phải đuổi theo; vì vậy, họ đã giảm bớt sự kiểm soát đối với các công ty.

Tại Anh, Luật CTCP được ban hành vào năm 1844, theo đó các CTCP muốn được thành lập không phải xin phép mà chỉ cần đăng ký. Quy định này đã tạo động lực mạnh mẽ cho các CTCP ở Anh phát triển, góp phần đáng kể đưa nước Anh trong thời kỳ đó trở thành bá chủ về hàng hải và là một cường quốc trên thế giới. Trải qua hàng trăm năm phát triển, cho đến nay, cùng với quá trình toàn cầu hóa, hình thức CTCP đã có sức bật mới với sự xuất hiện của các loại hình CTCP “đa quốc gia”, “xuyên quốc gia” có tầm hoạt động rộng lớn và khả năng cạnh tranh cao. Ở Việt Nam, so với các nước trên thế giới, loại hình CTCP ra đời muộn và chậm phát triển hơn.

Cột mốc đánh dấu sự ra đời của CTCP ở Việt Nam là vào ngày Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp 21/12/1990 khi Quốc hội khóa VIII thông qua hai đạo luật quan trọng là: Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân. Việc ban hành hai đạo luật này đã đặt cơ sở pháp lý cho việc hình thành và phát triển hệ thống doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam như: CTCP, CTTNHH, DNTN. Tuy nhiên, sau gần mười năm thực hiện, nhiều nội dung của hai đạo luật trên đã tỏ ra bất cập, không đáp ứng được nhu cầu điều chỉnh hoạt động của các loại hình doanh nghiệp nên rất cần phải sửa đổi bổ sung cho phù hợp với yêu cầu của thời kỳ mới. Đáp ứng nhu cầu đó, trên cơ sở hợp nhất có sửa đổi, bổ sung Luật Công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân, Luật Doanh Nghiệp Việt Nam (LDNVN) năm 1999 đã ra đời và bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2000.

LDN năm 2000 là nền tảng quan trọng nhất cho sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân đặc biệt là sự phát triển của CTCP tại Việt Nam. Theo số liệu thống kê của Cục Phát triển Doanh nghiệp nhỏ và vừa (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), từ đầu năm 2000 đến hết năm 2006, số lượng các CTCP ở Việt Nam đã liên tục tăng lên, tăng từ khoảng 7% tổng số các doanh nghiệp thành lập năm 2000 lên trên 20% năm 2006. Vào năm 2005-2006 dưới áp lực và nhu cầu mạnh mẽ của việc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, hàng loạt các luật có liên quan phải ban hành mới hoặc sửa đổi, bổ sung; trong đó có các luật về đầu tư và doanh nghiệp. LDN 2005 đã ra đời trong hoàn cảnh đó, nó thay thế cho LDN 2000, Luật DNNN năm 2003, các quy định về doanh nghiệp của Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/07/2006.

Kể từ khi LDN 2005 có hiệu lực, lần đầu tiên chúng ta có một LDN duy nhất, áp dụng thống nhất và không phân biệt đối xử đối với tất cả các loại hình doanh nghiệp, không phân biệt tính chất sở hữu, người trong nước cũng như người nước ngoài có quyền tự chủ lựa chọn bất kỳ loại hình nào trong bốn loại hình doanh nghiệp do luật quy định (bao gồm: DNTN, công ty hợp danh, CTTNHH và CTCP). Ngoài ra, LDN 2005 đã xác định thời hạn bốn năm kể từ khi Luật này có hiệu lực để các doanh nghiệp nhà nước chuyển đổi thành CTTNHH hay CTCP nhằm góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế. Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp Như vậy, cùng với các loại hình doanh nghiệp khác, CTCP ở Việt Nam ra đời khá muộn so với các nước trên thế giới, được hình thành và phát triển cùng với sự thừa nhận nền kinh tế thị trường có điều tiết, thể hiện sự thay đổi sâu sắc trong tư duy lãnh đạo kinh tế của Đảng và Nhà nước ta. Khái niệm và đặc điểm của CTCP 2.

Khái niệm CTCP là một trong bốn loại hình doanh nghiệp ở Việt Nam hiện nay cho nên để tìm hiểu khái niệm CTCP trước tiên cần tìm hiểu khái niệm và đặc điểm của một doanh nghiệp nói chung. Theo khoản 1 Điều 4 LDN 2005, Doanh nghiệp được định nghĩa là “tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh”. Như vậy, một doanh nghiệp nói chung có những đặc điểm pháp lý cơ bản sau đây:  Thứ nhất, là tổ chức kinh tế, có tư cách chủ thể pháp lý độc lập;  Thứ hai, được xác lập tư cách (thành lập và đăng ký kinh doanh) theo thủ tục do pháp luật quy định;  Thứ ba, có nghề nghiệp kinh doanh. Do CTCP là một trong bốn loại hình doanh nghiệp theo LDN 2005 nên ngoài mang các đặc điểm nói chung của một doanh nghiệp thì trên cơ sở các dấu hiệu đặc trưng về số lượng thành viên, cơ cấu góp vốn, trách nhiệm pháp lý của cổ đông, tư cách pháp nhân của công ty, việc chuyển nhượng vốn và phát hành chứng khoán, CTCP theo điều 77 LDN 2005 còn được định nghĩa như sau: “CTCP là doanh nghiệp, trong đó: - Vốn điều lệ được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần; - Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa; - Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Quản lý Công ty cổ phần theo quy định của pháp luật Việt Nam: Thực trạng và giải pháp - Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác, trừ trường hợp đối với cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác và hạn chế quyền tự do chuyển nhượng cổ phần phổ thông trong thời hạn 3 năm kể từ ngày CTCP được cấp GCNĐKKD đối với các cổ đông sáng lập theo quy định tại khoản 3 Điều 81 và khoản 5 Điều 84 của LDN 2005; - Có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh - Có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn”.

Đặc điểm của CTCP Thứ nhất, về số lượng thành viên: Hầu hết pháp luật các nước đều quy định số lượng thành viên tối thiểu mà không giới hạn số lượng tối đa đối với CTCP. Ở nước ta, Luật Công ty năm 1990 quy định số lượng thành viên tối thiểu trong suốt quá trình hoạt động của CTCP là 7 và theo LDN năm 1999 và LDN năm 2005 thì số lượng này là 3. Đặc điểm này thể hiện đặc trưng cơ bản của CTCP là loại hình công ty đối vốn nên có sự liên kết của nhiều thành viên tham gia góp vốn vào CTCP. Thứ hai, về hình thức góp vốn: Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.

Giá trị của mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu, người mua cổ phiếu gọi là cổ đông, lợi nhuận có được hàng năm từ cổ phần gọi là cổ tức. Việc góp vốn vào CTCP được thực hiện bằng cách mua cổ phiếu, mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu. Đăc điểm này cũng thể hiện đặc trưng cơ bản của CTCP là loại hình công ty đối vốn, nghĩa là khi thành lập và trong suốt quá trình hoạt động, các thành viên công ty hoàn toàn không quan tâm đến nhân thân người góp vốn mà chỉ quan tâm đến phần vốn góp của họ. Bởi vì đối với loại hình công ty này tư cách thành viên công ty và các quyền của cổ đông trong việc quyết định các vấn đề liên quan đến cơ cấu tổ chức và hoạt động của công ty được quyết định trước hết bởi số lượng các cổ phiếu của công ty mà người đó nắm giữ.

Thứ ba, về huy động vốn: Trong quá trình hoạt động của mình, CTCP được quyền phát hành chứng khoán ra công chúng để huy động vốn theo qui định của pháp luật về phát hành chứng khoán. Luật Công ty năm 1990, LDN năm 1999 và LDN năm 2005 đều qui định rõ: đối với CTTNHH khi muốn tăng vốn điều lệ của Thành Hiền Lương – Anh 3 – K45 - Luật KDQT 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ