Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI TRẺ EM CÓ HOÀN CẢNH ĐẶC BIỆT 1. Khái niệm trẻ em Có nhiều định nghĩa khác nhau về trẻ em tùy theo góc độ tiếp cận mà các quốc gia, tổ chức đưa ra những định nghĩa khác nhau về trẻ em nhưng căn cứ để đưa ra định nghĩa về trẻ em có những điểm chung là căn cứ vào độ tuổi, hầu hết các quốc gia trên thể giới đều lấy độ tuổi trẻ em là dưới 18, chỉ có khoảng 5 quốc gia lấy độ tuổi thấp hơn là 16 hoặc 17, các biết có quốc gia lấy độ tuổi là 20 Theo Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em (CRC): “Trẻ em có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn” (Điều 1).[20] Ở Việt Nam, Luật Bảo vệ chăm sóc giáo dục trẻ em năm 2004 và Luật trẻ em năm 2016 quy định: “Trẻ em là người dưới 16 tuổi”.[29] Trong phạm vi của đề tài, tác giả sử dụng khái niệm trẻ em là người dưới 18 tuổi cho phù hợp với thực tiễn địa bàn nghiên cứu, vì ở làng SOS trẻ em đến 18 tuổi mới được hồi gia hoặc chuyển sang nhà lưu trú nên chưa có điều kiện hồi gia. Khái niệm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Những đối tượng thuộc nhóm trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt sẽ dựa vào tình hình kinh tế xã hội từng quốc gia và những giai đoạn phát triển kinh tế của đất nước, vào đặc điểm văn hóa của mỗi dân tộc. Chính vì vậy, ở các nước khác nhau, hoặc trong một đất nước nhưng ở từng giai đoạn khác nhau cũng có quan niệm khác nhau về vấn đề trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt.
Khái niệm về trẻ em có HCĐB như sau: “Trẻ em có HCĐB là trẻ em có hoàn cảnh không bình thường về thể chất hoặc tinh thần, không đủ điều kiện thực hiện quyền được sống, quyền được bảo vệ, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, quyền học tập, cần có sự hỗ trợ, can thiệp đặc biệt của Nhà nước, gia đình và xã hội để được an toàn, hòa nhập gia đình, cộng đồng (Điều 3, Luật BVCSGDTE năm 2004)[29]. 8 Năm 2016, quan niệm về nhóm trẻ em có HCĐB có sự thay đổi Theo khoản 1, điều 10, Luật trẻ em năm 2016: Trẻ em có HCĐB bao gồm 14 đối tượng: trẻ em mồ côi cả cha và mẹ; trẻ em bị bỏ rơi; trẻ em không nơi nương tựa; trẻ em khuyết tật; trẻ em nhiễm HIV/AIDS; trẻ em vi phạm pháp luật; trẻ em nghiện ma túy; trẻ em phải bỏ học kiếm sống chưa hoàn thành phổ cập giáo dục trung học cơ sở; trẻ em di cư, tị nạn chưa xác định được cha mẹ hoặc không có người thân chăm sóc. Trong luận văn này nhóm trẻ em có HCĐB được nghiên cứu theo quy định của Luật trẻ em năm 2016. Thông qua nhận diện nhóm trẻ em có HCĐB theo quy định của pháp luật hiện hành(Nghị định số 56/2017/NĐ-CP) cho thấy phần đông trẻ em rời vào hoàn cảnh đặc biệt đều do các yếu tố xã hội tạo ra, chính vì vậy, trong quá trình triển khai các hoạt động quản lý CTXH và cung cấp dịch vụ CTXH can jhAthiệp, hỗ trợ cho trẻ em có HCĐB cần phải lưu ý đến đặc điểm này để có những tác động cho phù hợp, để đem lại hiệu quả hỗ trợ tốt nhất cho trẻ em có HCĐB.3 Các nguyên nhân gây ra hoàn cảnh đặc biệt Các nguyên nhân gây nên tình trạng trẻ em đặc biệt khó khăn: Nhóm trẻ khác nhau thì có những nguyên nhân chung và nguyên nhân riêng khác nhau.
Có thể chia làm 2 nhóm nguyên nhân: Nhóm nguyên nhân khách quan, nhóm nguyên nhân chủ quan.Cụ thể như sau: Nguyên nhân khách quan Nguyên nhân về kinh tế: Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, khó tránh khỏi sự phân hoá giàu nghèo, phân tầng xã hội. Gốc rễ của vấn đề này là quy luật cạnh tranh và sự phát triển không đồng đều kẻ giàu người nghèo, Mức sống giữa các tầng lớp phân cấp giàu nghèo, và các vùng miền cũng làm gia tăng trẻ em lang thang kiếm sống, lao động trẻ em và trẻ em bị xâm hại tình dục., Bố mẹ li hôn, li thân, bỏ rơi con cái cũng ảnh hưởng rất lớn đến HCĐB của trẻ. Trẻ em thường rất nhạy cảm với sự thay đổi của cả môi trường và xã hội. Vì vậy tình trạng bỏ nhà ra đi, trộm cắp, bụi đời, nghiện hút ngày càng gia tăng ở lứa tuổi các em.
Mức sống của cộng đồng ngày càng tăng, chi phí cho các dịch vụ xã hội cơ bản như giáo dục, y tế,. và các chi phí vui chơi giải trí cho trẻ ngày càng phát triển. Một bộ phận dân cư nghèo không đủ điều kiện để đáp ứng nhu cầu của trẻ, 9 hiển nhiên những trẻ này có xu hướng bỏ học, lao động kiếm sống và dễ bị tổn thương do bị xâm hại, bóc lột và ngược lại. Nguyên nhân về điều kiện tự nhiên: Nước ta thiên tai, bão lũ thường xuyên xảy ra, hàng năm gây thiệt hại lớn về người và tài sản của nhân dân dẫn đến cảnh đói nghèo, dịch bệnh, người chết, mất tích.
Trong số đó, không ít trẻ em bị mồ côi, khuyết tật, mắc bệnh, thiếu ăn, phải lao động kiếm sống. Ngoài ra, địa hình phức tạp, chia cắt các vùng, hạ tầng cơ sở cơ bản như y tế, giáo dục, nước sạch không đáp ứng là những nguyên nhân chung dẫn đến tình trạng khó khăn của người dân và trẻ em, khiến trẻ không được bảo đảm và trẻ rơi vào tình trạng trẻ em hoàn cảnh đặc biệt khó khăn… Nguyên nhân về chiến tranh: Chiến tranh đã đi qua và để lại hậu quả nặng nề, thương tật, bệnh tật. nhiều trẻ mất cha, mất mẹ trở thành mồ côi, không có người thân chăm sóc phải lao động sớm, lang thang kiếm sống , di chứng chất độc màu da cam là nguyên nhân chính gây nên trẻ em khuyết tật bẩm sinh ở trẻ em. Nguyên nhân chủ quan.
Đầu tư của Nhà nước vào một số vùng, địa phương còn chưa đáp ứng nhu cầu, sự thiếu quan tâm của các cấp, chính quyền của một số bậc cha mẹ trong việc chăm sóc, bảo vệ và giáo dục trẻ em, sự nhạy cảm của trẻ em với môi trường sống đang là những nguyên nhân làm cho tình trạng trẻ rơi vào hoàn cảnh này ngày càng gia tăng so với những năm trước. Những nguyên nhân thuộc về gia đình: Những biến đổi nhanh chóng của sản xuất, đời sống, giao thông liên lạc, thông tin đại chúng. đang làm thay đổi những mối quan hệ của con người trong gia đình và xã hội. do xã hội hóa toàn cầu nhu cầu hưởng thụ của con người tăng cao dẫn đến tình trạng li hôn, li thân, sinh con ngoài giá thú, bỏ rơi con tăng lên nhiều lần trong những năm qua.
Ngoài ra, một số gia đình bố mẹ quá nghiên khắc, cư xử k đúng với trách nhiệm của người làm cha mẹ, hắt hủi con cái làm chúng sợ hãi, mặc cảm và dần xa lánh. Chính sự thiếu hiểu biết, nhận thức hạn chế, thiếu sự quan tâm hoặc thiếu biện pháp quản lý trong việc chăm sóc con cái của một số bậc cha mẹ và gia đình là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng gia tăng trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Tuy nhiên, cũng có những nguyên nhân chủ quan nằm về chính bản 10 thân các em. Những nguyên nhân kể trên đều là những nguyên nhân chủ quan thuộc về chính bản thân các em, điều không may mắn là các em được sinh ra trong môi trường sống đầy những khó khăn, cám dỗ, không lành mạnh Đây là những nguyên nhân thuộc về bản thân các em, trong điều kiện môi trường, với những hoàn cảnh sống như vậy thì ý chí vượt khó của các em sẽ đóng vai trò rất quan trọng.
Bên cạnh đó, chủ trương phân cấp quản lý nhà nước chưa được làm triệt để, một số địa phương khó khăn, nghèo có tư tưởng trông chờ vào sự trợ cấp của nhà nước, dẫn đến nhiều chính sách và giải pháp chưa được tổ chức thực hiện và cũng không phải chịu trách nhiệm. Trong vấn đề chăm sóc và bảo vệ trẻ em bị một tình trạng chung, hay nói cách khác là hiệu lực pháp luật chưa cao. Ngoài ra, ở một số địa phương, cơ sở thiếu sự quan tâm chỉ đạo hoặc quan tâm chưa đúng mức cũng là nguyên nhân dẫn đến tình trạng gia tăng trẻ em hoàn cảnh đặc biệt khó khăn. Đội ngũ nhân viên chuyên nghiệp thiếu ở hầu hết các địa phương, nhất là ở miền núi và nông thôn, vùng có khó khăn về kinh tế.
Ngoài ra, còn rất nhiều các nguyên nhân khác dẫn đến sự thiệt thòi của trẻ có HCĐB. Khái niệm công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt Khái niệm công tác xã hội Tháng 7 năm 2011 Hiệp hội CTXH quốc tế và các trường đào tạo CTXH quốc tế thống nhất định nghĩ về CTXH như sau: “Công tác xã hội là nghề nghiệp tham gia vào giải quyết vấn đề liên quan tới mối quan hệ của con người và thúc đẩy sự thay đổi xã hội. CTXH sử dụng các học thuyết về hành vi con người và lý luận về hệ thống xã hội can thiệp sự tương tác của con người và môi trường sống” [32,tr. Công tác xã hội là một nghề, một hoạt động chuyên nghiệp nhằm trợ giúp các cá nhân, gia đình và cộng đồng nâng cao năng lực đáp ứng nhu cầu và tăng cường chức năng xã hội, đồng thời thúc đẩy môi trường xã hội về chính sách, nguồn lực và dịch vụ nhằm giúp cá nhân, gia đình và cộng đồng giải quyết và phòng ngừa các vấn đề xã hội góp phần đảm bảo an sinh xã hội [21].
11 Từ những khái niệm trên về CTXH, có thể khẳng định CTXH là một nghề, một ngành khoa học độc lập, có đối tượng nghiên cứu riêng, có hệ thống lý luận và phương pháp nghiên cứu riêng. Khái niệm công tác xã hội đối với trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Theo luật trẻ em 2016, trong đó có bảo vệ trẻ em 3 cấp độ, cấp độ 1 là phòng ngừa giảm thiểu rủi ro cho trẻ em, cấp độ 2 là can thiệp giảm thiểu rủi ro, cấp độ 3 là hỗ trợ, phục hồi, hòa nhập.