đặt vấn đề rõ ràng để giúp thầy giáo và SV nghiên cứu: “Phải hiểu rõ học thế nào? Học cái gì? Học để làm gì?” [26]. Trong việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo hiện nay, Đảng cũng đã tổng kết và đưa ra những định hướng, quan điểm chỉ đạo làm nền tảng cho việc đổi mới CTSV ở các trường đại học, đó là “Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề. Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân. Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống và đạo lý dân tộc, tinh hoa của nhân loại, những giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh,.
Ở trong nước hiện nay đã có một số nghiên cứu về một lĩnh vực cụ thể của CTSV, góp phần bổ sung lý luận và thực tiễn nhằm thực hiện tốt CTSV trong các trường đại học, đặc biệt là quản lý SV trong điều kiện đào tạo theo học chế tín chỉ. Nhằm đáp ứng yêu cầu của việc đổi mới quản lý giáo dục đại học nói chung và việc chuyển đổi từ hình thức đào tạo theo niên chế sang đào tạo theo học chế tín chỉ, Bộ GDĐT tạo đã tổ chức một số hội thảo về việc thực hiện CTSV trong điều kiện đào tạo theo học chế tín chỉ. Năm 2008, Ban Liên lạc các trường đại học, cao đẳng Việt Nam tổ chức Hội thảo khoa học “Quản lý SV trong đào tạo theo hệ thống tín chỉ”. Tại các hội thảo này, một số nhà khoa học, nhà quản lý đã có tham luận nêu rõ đặc 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com điểm, những thuận lợi, khó khăn trong quản lý SV khi chuyển đổi sang đào tạo theo tín chỉ và đề xuất một số giải pháp khắc phục.
Bàn về vị trí, vai trò và giải pháp đổi mới CTSV trong điều kiện đào tạo theo học chế tín chỉ, tác giả Lê Đức Ngọc, Đại học Quốc gia Hà Nội đã đưa ra quan điểm và giải pháp: 1/. CTSV phải được coi như là một mảng của công tác đào tạo của nhà trường: đào tạo năng lực học hỏi và đào tạo phẩm chất nhân văn cho người học. CTSV phải được coi như một mảng của công tác tổ chức của nhà trường: quản lý người học [3, tr. Tác giả Ngô Doãn Đãi, Đại học Quốc gia Hà Nội đã nêu quan điểm và một số biện pháp để quản lý việc học tập của SV trong đào tạo theo tín chỉ, cụ thể là không nên quản lý việc học tập của SV bằng các biện pháp kiểm tra hành chính hoặc công tác tư tưởng mà nên quản lý bằng học chế tín chỉ, quy chế học tập và những yêu cầu cụ thể của người thầy trong quá trình dạy và học thông qua bản đề cương môn học; tổ chức đánh giá thường xuyên đối với SV trong quá trình đào tạo và thay đổi nội dung thi, kiểm tra [3, tr.
Tác giả Phùng Khắc Bình, chủ nhiệm Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ “Nghiên cứu việc phân loại đạo đức HSSV– Thực trạng và Tiêu chí đánh giá” đã nghiên cứu cơ sở khoa học, nội dung, các bước tiến hành việc đánh giá đạo đức, kết quả rèn luyện của HSSVcác trường đại học, cao đẳng và trung cấp chuyên nghiệp. Kết quả nghiên cứu của đề tài đã được thể chế hóa bằng văn bản pháp quy của Bộ GDĐT (Quy chế đánh giá kết quả rèn luyện của HSSV các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp hệ chính quy), được thực hiện có hiệu quả trong các nhà trường từ năm 2002 đến nay [12]. Tác giả Vũ Thị Thảo, Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam trong đề tài: Nghiên cứu thực trạng quản lý SV trong đào tạo từ niên chế sang học chế tín chỉ tại Trường Đại học Xây dựng Hà Nội đã xác định những nội dung chính của công tác quản lý SV trong đào tạo theo tín chỉ, tổ chức khảo sát thực trạng công tác quản lý SV sau khi chuyển từ đào tạo theo niên chế sang học chế tín chỉ ở Trường Đại học Xây dựng Hà Nội từ đó rút ra các đặc điểm về tổ chức quản lý trong đào tạo theo học chế tín chỉ, việc tổ chức hệ thống cố vấn học tập và chỉ ra được những nhân tố ảnh hưởng đến công tác quản lý sinh viên: về bộ máy làm công tác quản lý SV; cố vấn học tập; hệ thống giáo trình, tài liệu học tập và ý thức tự giác trong học tập và tham gia công tác xã hội của SV [98]. Các tác giả Đào Ngọc Cảnh và Huỳnh Văn Đà đã nghiên cứu bản chất của đào tạo theo học chế tín chỉ và đề xuất các giải pháp quản lý nhằm nâng cao tính chủ động 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com của SV.
Đề tài nghiên cứu đã nêu ra các giải pháp về việc tăng cường cung cấp thông tin cho SV, đổi mới quan điểm, cách tiếp cận trong công tác giảng dạy và quản lý SV trong điều kiện đào tạo theo học chế tín chỉ từ đó thay đổi nhận thức cũng như phương pháp học tập của SV [31, tr. Đề tài “Xây dựng mô hình quản lý công tác giáo dục đạo đức cho sinh viên trong các trường đại học sư phạm trong giai đoạn hiện nay” của tác giả Nguyễn Thị Hoàng Anh đã xây dựng cơ sở lý luận cho việc quản lý công tác giáo dục đạo đức cho SV ở các trường đại học sư phạm, tổ chức khảo sát thực trạng và đề xuất được mô hình quản lý công tác giáo dục đạo đức cho SV và một số biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng công tác giáo dục đạo đức cho SV các trường đại học sư phạm hiện nay [2]. Tại đề tài luận án tiến sĩ các tác giả Nguyễn Đình Đức [45], Kiều Thị Kiều Thanh [97], Bùi Thị Tuyết Mai [82] đã tập trung nghiên cứu về nội dung và biện pháp thực hiện một số nội dung cụ thể của CTSV như: công tác giáo dục lý tưởng cách mạng; giáo dục đạo đức, lối sống, đạo đức nghề nghiệp đối với SV ngành sư phạm hoặc một nhóm trường đại học ở địa phương. Nhận xét chung Nhìn chung, các công trình nghiên cứu khoa học trên thế giới và ở Việt Nam đã đề cập đến vấn đề CTSV, dịch vụ SV, quản lý CTSV với nhiều góc độ khác nhau.
Các nghiên cứu của UNESCO và một số học giả ở Mỹ, Châu Âu đều tập trung vào vấn đề hỗ trợ và dịch vụ đối với SV trên cơ sở tôn trọng, phát huy ý thức công dân, tính tự giác và tự chịu trách nhiệm trước pháp luật của SV; mô tả cụ thể quy trình, cách thức tiến hành các hoạt động hỗ trợ, dịch vụ SV trong đào tạo theo học chế tín chỉ. Các bài báo khoa học của một số tác giả ở trong nước về CTSV trong đào tạo theo học chế tín chỉ đã tập trung nghiên cứu về quản lý hoạt động học tập của SV, phát huy tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm của SV trong các hoạt động học tập. Một số luận án tiến sỹ, đề tài nghiên cứu khoa học của các tác giả trong nước mới chỉ tập trung vào một số nội dung trọng tâm của CTSV trong các trường đại học ở nước ta như: công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; giáo dục đạo đức, đạo đức nghề nghiệp; giáo dục lối sống văn hóa, quản lý SV ở nội trú, ngoại trú.nói chung nhưng chưa có nghiên cứu sâu về các lĩnh vực này trong đào tạo theo học chế tín chỉ. Các nghiên cứu về các hoạt động hỗ trợ, dịch vụ SV trong trường đại học và quy trình tổ chức thực hiện CTSV trong điều kiện đào tạo theo học chế tín chỉ ít được các học giả trong nước đề cập đến.
Đây là vấn đề cần đặc biệt quan tâm đối với công tác nghiên cứu khoa học thuộc lĩnh vực CTSV hiện nay bởi lẽ, ngoài việc thực hiện nhiệm vụ 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chính trị, xã hội là giáo dục tư tưởng, đạo đức, lối sống cho SV thì CTSV trong đào tạo theo học chế tín chỉ cần đặc biệt quan tâm đến các hoạt động hỗ trợ và dịch vụ SV, là yếu tố cơ bản để thúc đẩy năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành nghề nghiệp của SV sau khi tốt nghiệp và hỗ trợ tích cực cho việc quản lý SV trong đào tạo theo học chế tín chỉ. Mặt khác, hiện nay ở trong nước hầu như chưa có một công trình nghiên cứu lý luận mang tính tổng thể, toàn diện về CTSV và quản lý CTSV nói chung, đặc biệt là quản lý CTSV trong điều kiện đào tạo theo học chế tín chỉ để làm cơ sở cho việc nghiên cứu, triển khai toàn diện các lĩnh vực của CTSV trong các trường đại học. Do vậy, những vấn đề quản lý CTSV trong đào tạo theo học chế tín chỉ chưa được nghiên cứu sẽ là đối tượng nghiên cứu của tác giả trong luận án này. Đây cũng là ý nghĩa khoa học của đề tài xét trên cả phương diện lý luận và thực tiễn.
Khái niệm cơ bản của đề tài 1. Sinh viên Thuật ngữ “sinh viên” có nguồn gốc chữ La-tinh là “Student” có nghĩa là người học tập nhiệt tình, người tìm kiếm, khai thác tri thức. Như vậy, SV chính là người học theo phương pháp nghiên cứu, tìm tòi, khám phá. Theo nghĩa tiếng Hán, từ “sinh” dùng để chỉ người đi học, từ “viên” dùng để chỉ người làm việc ở một cơ quan, tổ chức.
Khi ghép hai từ này thành “sinh viên” có hàm ý chỉ người học ở trình độ cao, là nguồn nhân lực tương lai của các cơ quan, tổ chức. Do vậy, ở nhiều nước trên thế giới, thuật ngữ “sinh viên” dùng để chỉ chung cho những người học trình độ cao đẳng, đại học, cao học, nghiên cứu sinh. Ở Việt Nam, thuật ngữ “sinh viên” dùng để chỉ những người học chương trình đào tạo cao đẳng, chương trình đào tạo đại học [95]. Trong luận án này, tác giả sử dụng khái niệm Sinh viên là người đang học chương trình đào tạo trình độ đại học hệ chính quy của các cơ sở giáo dục đại học.
Công tác sinh viên Theo Từ điển từ và ngữ Hán Việt, cụm từ “công tác” dùng để chỉ công việc của Nhà nước hoặc một đoàn thể [74, tr. Vì vậy, hiểu theo nghĩa rộng thì CTSV chính là các công việc của nhà nước, nhà trường và các cơ quan, đoàn thể đối với SV.