phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày theo 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về QLCTCNL ở trường THCS Chƣơng 2: Thực trạng QLCTCNL ở trường THCS Tiên Thanh, Tiên Lãng, Hải Phòng Chƣơng 3: Một số biện pháp QLCTCNL ở trường THCS Tiên Thanh, Tiên Lãng, Hải Phòng đáp ứng yêu cầu đổi mới GD 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ ĐÁP ỨNG YÊU CẦU ĐỔI MỚI GIÁO DỤC 1. Tổng quan về đề tài nghiên cứu QLCTCNL trong trường phổ thông đã có nhiều công trình, nhiều đề tài nghiên cứu, phân tích. Các đề tài nghiên cứu QLCTCNL ở nhiều khía cạnh khác nhau và phân bố ở tất cả các bậc học. - Các công trình tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về CT của GVCNL ở trường phổ thông, bao gồm các nội dung vai trò, chức năng và nhiêm vụ của GVCNL ở trường phổ thông; GVCNL với việc xây dựng tập thể HS; xây dựng KH CNL và những yêu cầu đối với GVCNL, những kinh nghiệm, trao đổi cụ thể về CTCNL: Giáo dục học (Chương XVI, Người giáo viên chủ nhiệm) của Phạm Viết Vượng - Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2004; Phương pháp công tác của người giáo viên chủ nhiệm ở trường Trung học phổ thông của Hà Nhật Thăng (chủ biên)- Nhà xuất bản Đại học quốc gia Hà Nội, 2004; Kỷ yếu hội thảo - Công tác giáo viên chủ nhiệm ở trường phổ thông - Nhà xuất bản GD, 2010; Giáo dục học, tập 2 (Chương XIX, Công tác của giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông) của Trần Thị Tuyết Oanh (chủ biên)- Nhà xuất bản Đại học sư phạm, 2012.
- Trong công trình Công tác giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông của Hà Nhật Thăng (chủ biên) - Nhà xuất bản GD, 2009, bên cạnh những vấn đề cơ bản nhất về người GVCNL ở trường phổ thông hiện nay như chức năng, nhiệm vụ của người GVCNL, nội dung CTCNL, cuốn sách còn hướng dẫn thực hiện một số nội dung CTCNL. - Tiếp cận những vấn đề cơ bản của CTCNL và các nội dung trong CTCNL ở trường trung học phổ thông hiện nay từ góc nhìn của chuẩn nghề nghiệp GV trung học với một số vấn đề như: những vấn đề chung về GVCNL ở trường trung học phổ thông; những nội dung cụ thể cần quan tâm trong CTCNL ở trường trung học phổ thông hiện nay và cũng giới thiệu một số cách tổ chức các HĐGD, GD KNS cho HS trong nhà trường có thể kể đến tác giả Nguyễn Thanh Bình với công trình CTCNL ở trường THPT đề tài mã số SPHN – 09 – 465 NCSP, 2010, và cuốn Một số vấn đề 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT hiện nay, Nguyễn Thanh Bình (chủ biên) - Nhà xuất bản Đại học sư phạm, 2011. - Các nhà nghiên cứu còn đi sâu nghiên cứu những khía cạnh khác có liên quan đến CTCNL như: GDKNS trong HĐGDNGLL ở trường THCS của Bộ GD và ĐT năm 2010, Nhà xuất bản GD; cuốn Những vấn đề chung về đổi mới GD THCS - HĐGDNGLL của Bộ GD và ĐT năm 2007 của Nhà xuất bản GD; Trần Đức với cuốn Giáo dục kỹ năng sống, Nhà xuất bản Văn hóa - Thông tin năm 2013. - Nghiên cứu về biện pháp QLCTCNL có Một số biện pháp tăng cường QL của Hiệu trưởng đối với CTCNL trong các trường trung học phổ thông tỉnh Bắc Ninh, luận văn thạc sĩ của Nguyễn Khắc Hiền (2005); Biện pháp QL công tác GVCNL của Hiệu trưởng trường trung học phổ thông ở tỉnh Yên Bái trong giai đoạn hiện nay, luận văn thạc sĩ của Nguyễn Xuân Tuyên (2007); Biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường THCS Ngô Quyền thành phố Hải Phòng, luận văn thạc sĩ của Vũ Thị Hải (2011).
Qua nghiên cứu các công trình trên chúng tôi nhận thấy, các đề tài tuy xuất phát ở nhiều góc độ khác nhau nhưng đã khẳng định được vị trí, vai trò của CTCNL và QLCTCNL trong nhà trường phổ thông, đề xuất được một số biện pháp QL mang lại hiệu quả cho tổ chức hoặc đơn vị mình. Các đề tài đã nghiên cứu ở nhiều cấp học khác nhau. Tuy nhiên, những biện pháp mà các tác giả đưa ra khó có thể phù hợp và giúp giải quyết được triệt để những bất cập trong CT QL của các nhà trường ở những địa phương khác. Hiện nay chưa có công trình nào đề cập đến vấn đề QLCTCNL ở trường THCS Tiên Thanh, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.
Vì vậy, nghiên cứu đề tài “Quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung học cơ sở Tiên Thanh, thành phố Hải Phòng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” là thực sự cần thiết, vừa có ý nghĩa lý luận, vừa có ý nghĩa thực tiễn. Các khái niệm cơ bản của đề tài 1. Quản lý Có nhiều khái niệm về QL. Dưới đây là một số khái niệm được đề cập trong hầu hết các tài liệu về Khoa học Quản lý: - Theo những định nghĩa kinh điển nhất, “HĐ QL là các tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể QL (người QL) đến khách thể QL (người bị QL)- 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trong một tổ chức – nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [19, tr.
- Theo tiếp cận chức năng, “QL là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các HĐ (chức năng) KH hóa, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra” [19, tr. Từ các khái niệm trên, có thể hiểu về QL như sau: - QL là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người QL, tổ chức QL) lên khách thể (đối tượng QL) về các mặt chính trị, văn hóa, xã hội, kinh tế.bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng. Đối tượng QL có thể trên quy mô toàn cầu, khu vực, quốc gia, ngành, đơn vị, có thể là một con người cụ thể, sự vật cụ thể. - QL thể hiện việc tổ chức, điều hành, tập hợp người, công cụ, phương tiện tài chính.để kết hợp các yếu tố đó với nhau nhằm đạt mục tiêu định trước.
- Chủ thể muốn kết hợp được các HĐ của đối tượng theo một định hướng QL đặt ra phải tạo ra được “quyền uy”. Những định nghĩa trên đây khác nhau về cách diễn đạt, nhưng đều gặp nhau ở những nội dung cơ bản, QL phải bao gồm các yếu tố (các điều kiện) sau: - Phải có ít nhất một chủ thể QL là tác nhân tạo ra các tác động và ít nhất là một đối tượng bị QL tiếp nhận trực tiếp các tác động của chủ thể QL tạo ra và các khách thể khác chịu các tác động gián tiếp của chủ thể QL. Tác động có thể chỉ là một lần hoặc nhiều lần. - Phải có một mục tiêu và một quỹ đạo đặt ra cho cả đối tượng và chủ thể, mục tiêu này là căn cứ để chủ thể tạo ra các tác động.
- Tác động của chủ thể phải có KH và có tính mục đích - Chủ thể có thể là một người, nhiều người, còn đối tượng có thể là một hoặc nhiều người (trong tổ chức xã hội). - Bất cứ một tổ chức có mục đích gì, cơ cấu và quy mô ra sao đều cần phải có sự QL và có người QL để tổ chức HĐ và đạt được mục đích của mình. Các HĐ QL kể trên cũng chính là các chức năng của QL: KH hóa, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra. Nội dung cụ thể của từng chức năng QL theo nhóm tác giả Nguyễn Thị Mỹ Lộc [19], có thể hiểu như sau: 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Chức năng KH hóa: Trong chức năng KH hóa, nhà QL cần triển khai thực hiện các công việc, gồm xác định mục tiêu, mục đích đối với thành tựu tương lai của tổ chức và các con đường, biện pháp, cách thức và dự kiến nguồn lực để đạt được mục tiêu, mục đích đó.
- Chức năng tổ chức: Khi người QL đã lập xong KH, họ cần phải chuyển hóa những ý tưởng khá trừu tượng ấy thành hiện thực. Một tổ chức lành mạnh sẽ có ý nghĩa quyết định đối với sự chuyển hóa như thế. Xét về mặt chức năng QL, tổ chức là quá trình hình thành nên cấu trúc các quan hệ giữa các thành viên, giữa các bộ phận trong một tổ chức nhằm làm cho họ thực hiện thành công các KH và đạt được mục tiêu tổng thể của tổ chức. Nhờ việc tổ chức có hiệu quả, người QL có thể phối hợp, điều phối tốt hơn các nguồn vật lực và nhân lực.
Thành tựu của một tổ chức phụ thuộc rất nhiều vào năng lực của người QL sử dụng các nguồn lực này sao cho có hiệu quả và có kết quả. Quá trình tổ chức sẽ lôi cuốn việc hình thành, xây dựng các bộ phận, các phòng ban cùng các công việc của chúng. - Chức năng chỉ đạo: Sau khi KH đã được lập, cơ cấu bộ máy đã hình thành, nhân sự đã được tuyển dụng thì phải có người đứng ra lãnh đạo, dẫn dắt tổ chức. Một số học giả gọi đó là quá trình chỉ đạo hay tác động.
Dù tên gọi khác nhau nhưng quá trình lãnh đạo bao hàm việc liên kết, liên hệ với người khác và động viên họ hoàn thành những nhiệm vụ nhất định để đạt được mục tiêu của tổ chức. Hiển nhiên, việc lãnh đạo không chỉ bắt đầu sau khi việc lập KH và thiết kế bộ máy đã hoàn tất, mà nó thấm vào, ảnh hưởng quyết định tới hai chức năng kia. - Chức năng kiểm tra: kiểm tra là một chức năng QL, thông qua đó một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức theo dõi, giám sát các thành quả HĐ và tiến hành những HĐ sửa chữa, uốn nắn nếu cần thiết. Một kết quả HĐ phải phù hợp với những chi phí bỏ ra, nếu không tương ứng thì phải tiến hành những hành động điều chỉnh, uốn nắn.
Ở đây, điều cần chú ý đối với người QL là thực hiện mỗi một chức năng là hoàn thành một giai đoạn trong chu kỳ QL. Tuy vậy, sự phân chia chu kỳ QL thành các giai đoạn chỉ có tính chất tương đối để giúp người QL định hướng cho HĐ QL của mình. Còn thực tế, các giai đoạn này xâm nhập vào nhau, gối lên nhau, bổ sung cho nhau.