phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, phụ lục thì luận văn được trình bày trong 3 chương: Chương l: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động cố vấn học tập trong các trường đào tạo theo hệ thống tín chỉ. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động cố vấn học tập ở Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Thái Nguyên. Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động cố vấn học tập theo đào tạo tín chỉ ở Trường Cao đẳng Thương mại và Du lịch Thái Nguyên. 6 download by : skknchat@gmail.com Chƣơng l CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CỐ VẤN HỌC TẬP TRONG CÁC TRƢỜNG ĐÀO TẠO THEO HỆ THỐNG TÍN CHỈ 1.
Tổng quan vấn đề nghiên cứu 1. Trên thế giới Phương pháp đào tạo theo hệ thống tín chỉ hay gọi tắt là Hệ thống tín chỉ là một phương thức đào tạo tiên tiến trong nền giáo dục của nhiều quốc gia trên thế giới. Nó còn được gọi là học chế tín chỉ để phân biệt với các phương pháp đào tạo ra đời trước nó như học chế niên chế, học chế học phần. Trên thế giới phương pháp này được áp dụng ở cả giáo dục phổ thông và giáo dục đại học.
Phương pháp đào tạo theo hệ thống tín chỉ ra đời vào năm 1872 tại Đại học Harvard, Hoa kì và sau đó được lan tỏa tới các nước khác, trước hết là các nước tây Âu từ những năm 1960 và hiện nay đã phổ biến trên toàn thế giới. Hiện nay có hai hệ thống tín chỉ được sử dụng rộng rãi là, Hệ thống Tín chỉ của Hoa Kỳ, được thực hiện từ những năm đầu tiên của thế kỷ XX và Hệ thống Chuyển đổi Tín chỉ của Châu Âu được xây dựng từ khoảng năm 1985 và được Hội đồng Châu Âu công nhận như là một hệ thống thống nhất dùng để đánh giá kiến thức của sinh viên trong khuôn khổ các nước thành viên EU từ năm 1997. ECTS là hệ thống phát triển rộng rãi nhất và được sử dụng cả ở các nước không thuộc Hiệp hội Châu Âu. Để xây dựng được một hệ thống cố vấn học tập (CVHT) hiệu quả, nhiều các tổ chức hoạt động giáo dục, các trường đại học trên thế giới đã nghiên cứu lý luận kết hợp cùng thực tiễn để đưa ra mô hình đội ngũ CVHT tối ưu.
Tại Mỹ, nơi đầu tiên đưa ra hệ thống đào tạo tín chỉ và thành lập Hiệp hội cố vấn học tập quốc gia (viết tắt là NACADA), đã nghiên cứu nền tảng lý luận để hoạt động CVHT được tiến hành một cách bài bản. Một là, phải có hoạt động tư vấn và hai là cần dựa vào các quan điểm lý thuyết cụ thể. Từ đó, Hiệp hội CVHT Quốc gia Mỹ đã sử dụng một số lý thuyết phát triển con người làm cơ sở cho hoạt động của CVHT. 7 download by : skknchat@gmail.com Trong đào tạo tín chỉ, vấn đề tự học của sinh viên bị chi phối, ảnh hưởng nhiều bởi yếu tố tâm lý.
Bởi vậy một số nhà nghiên cứu đã đi sâu tìm hiểu các vấn đề tâm lý học, xã hội học để các CVHT nắm được và vận dụng một cách khoa học trong công việc cố vấn, trợ giúp cho sinh viên. Để có được cơ sở cho hoạt động CVHT, Hiệp hội Cố vấn học tập Quốc gia Mỹ đã dựa vào rất nhiều quan điểm, các lý luận khác nhau, nhưng điểm chung nhất giữa các lý luận này là dựa vào đặc điểm riêng của người học; tôn trọng sự khác biệt của mỗi cá nhân trong việc tiếp thu kiến thức, đó cũng chính là quản điểm dạy học mới: lấy người học làm trung tâm. Đề cao vai trò của người học với các đặc điểm tâm lý cá nhân khác nhau để CVHT có thể tận dụng, khai thác, phát huy hết năng lực sở trường, những tiềm năng vốn có của người học từ đó có biện pháp, cách thức hỗ trợ người học học tập đạt kết quả cao nhất. Các nghiên cứu thực tiễn về hoạt động CVHT được các tác giả trên thế giới bàn đến (chủ yếu là các nước nói tiếng Anh- vốn có nền giáo dục phát triển tiên tiến, hiện đại) từ rất lớn trong quá trình phát triển các phương thức dạy - học ở bậc đại học.
Trong đào tạo tín chỉ, hệ thống CVHT không làm mất đi vai trò của giáo viên, giảng viên. Nhiều tác giả đã hướng tới việc đào tạo ra những cử nhân có tri thức và lịch lãm bằng cách làm mẫu cho học sinh về mặt đạo đức và trí tuệ thông qua cách cư xử của tất cả giáo viên trong trường. Tuy nhiên, theo các nhà nghiên cứu này, hoạt động CVHT vẫn phải đảm bảo vai trò và chức năng cơ bản của mình. CVHT đã có 3 giai đoạn, trong mỗi giai đoạn có những sự khác biệt về vai trò, nhiệm vụ và kỹ năng tư vấn.
Giai đoạn thứ nhất: Nhiều tác giả cho rằng ở giai đoạn này, hoạt động CVHT hình thành nhưng chưa được định nghĩa. Bắt đầu từ năm 1636, tại trường ĐH Harvard các giáo viên và sinh viên cùng sống trong một tòa nhà, họ cùng ăn uống, thư giãn, giải trí, cầu nguyện và tuân theo những kỷ luật chung. Giai đoạn này đã hình thành người đóng vai trò giúp đỡ, trợ giúp cho cả người dạy và người học, song chưa cụ thể chức năng của một CVHT thực sự. 8 download by : skknchat@gmail.com Giai đoạn thứ hai: Từ năm 1870 đến 1970 là giai đoạn “CVHT trở thành một hoạt động được định nghĩa nhưng chưa được kiểm tra”.
Đây chính là thời kỳ hoạt động của các CVHT được định hướng một cách rõ ràng nhất, CVHT hướng dẫn cho SV chọn môn học như thế nào cho phù hợp với nhu cầu và năng lực. Tuy nhiên, có những nghiên cứu nhận thấy những bất cập như thái độ của CVHT “đang dần thoái hóa và trở thành một công việc hời hợt”, các kỹ năng tư vấn trong lượt tư vấn đang trở thành “những buổi trò chuyện bâng quơ, vắn tắt”. Các CVHT bị phân tâm giữa những việc giảng dạy với các áp lực khác. Vị trí, nhiệm vụ của của CVHT vẫn mang tính kiêm nhiệm, bổ trợ và tập trung chủ yếu cho giải đáp nội dung giảng dạy.
Giai đoạn thứ ba: Được xác định là từ năm 1970 cho đến nay, hoạt động “cố vấn học tập đã trở thành một hoạt động được định nghĩa và kiểm tra”. Đây là giai đoạn hình thức đào tạo theo tín chỉ được gọi tên, và chức danh Cố vấn học tập cũng chỉ bắt đầu xuất hiện khi có hình thức đào tạo theo tín chỉ. Trong giai đoạn này, CVHT mang tính chuyên trách chuyên môn cao, phân biệt hoàn toàn khác giáo viên trợ giảng và giáo viên chủ nhiệm và hoạt động của họ được xây dựng thành một hệ thống hoàn chỉnh có sự điều khiển, kiểm tra giám sát của cán bộ quản lý đào tạo. Hoạt động CVHT được thúc đẩy và hoàn thiện từ năm 1979, khi Hiệp hội Cố vấn học tập Quốc gia (NACADA) ra đời.
Đây là một hiệp hội các nhà tư vấn chuyên nghiệp, giáo viên tư vấn, quản trị viên và có cả những sinh viên, họ cùng nhau làm việc, nghiên cứu, thực hành để tìm cách tăng cường, phát triển chất lượng của giáo dục và đào tạo theo tín chỉ. Hầu hết các trường đại học và cao đẳng trên thế giới hiện nay đều có Trung tâm/Văn phòng tư vấn của CVHT, những người thực hiện công việc này đều được đào tạo từ các ngành trợ giúp hoặc tốt nghiệp từ ngành Tâm lý, Tham vấn, Công tác xã hội hoặc Giáo dục; hàng năm họ đều có những cuộc kiểm tra, đánh giá về chất lượng hoạt động. 9 download by : skknchat@gmail.com Như vậy, để xây dựng được hệ thống CVHT hoàn thiện không chỉ cần yếu tố về mặt lý luận, thực tiễn mà cần trải qua thời gian lâu dài kết hợp 2 yếu tố trên để đúc rút kinh nghiệm và dần hoàn thiện. Ngay cả tại Mỹ- nơi đầu tiên xây dựng được Hiệp hội CVHT quốc gia, để có được hoạt động CVHT như ngày nay, họ đã trải qua những chặng đường dài trong xây dựng, phát triển.
Bắt đầu từ việc lựa chọn các quan điểm, nhìn lại quá trình đào tạo, hình thành người trợ giúp cho người học, rồi đến việc xây dựng những quy định, yêu cầu cụ thể đối với người CVHT. Có thể khẳng định rằng chức danh CVHT học tập chỉ tồn tại khi có hệ thống đào tạo theo tín chỉ, ở nước ta, cũng chỉ khi áp dụng đào tạo tín chỉ thì mới có chức danh này, khi còn đào tạo theo niên chế, chỉ có chức danh giáo viên chủ nhiệm. Tại Việt Nam Cố vấn học tập - cụm từ được nhắc đến nhiều từ khi phương thức đào tạo tín chỉ được áp dụng ở bậc đào tạo Đại học ở Việt Nam. Tuy nhiên vấn đề xác định vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ cụ thể của CVHT còn chưa có những văn bản pháp quy quy định thống nhất, bởi vậy tùy theo mỗi trường căn cứ quy mô, ngành nghề và điều kiện cụ thể của mình mà ban hành quy định hoạt động của CVHT riêng.
Trước tiên phải khẳng định rằng, CVHT có vai trò đặc biệt quan trọng trong đào tạo tín chỉ và ảnh hưởng đến sự thành công trong học tập, rèn luyện của sinh viên. Mỗi CVHT như là một “mắt xích” trong vòng tròn mối liên hệ giữa sinh viên - chương trình đào tạo - nhà trường. Phần lớn các trường đại học và một số trường cao đẳng hiện nay đã có những văn bản quy định ghi rõ nhiệm vụ, vai trò, quyền lợi và trách nhiệm của CVHT. Tuy nhiên, như trên đã nêu việc vận dụng mỗi trường đều khác nhau nên kết quả thực hiện theo các văn bản cũng như nhiệm vụ và vai trò của CVHT ở mỗi trường cũng khác nhau.
Trong những năm gần đây, ở nước ta hoạt động CVHT cũng đã được các trường đại học quan tâm và có một số bài viết điển hình trên các sách, báo, tạp chí, website, kỷ yếu hội thảo, hội nghị chuyên ngành về lĩnh vực cố vấn học tập 10 download by : skknchat@gmail.com trong trường học. Tuy nhiên các công trình chủ yếu tập trung giải quyết vấn đề vai trò và cách thức để hoạt động CVHT trong trường học đạt hiệu quả. Tác giả không tìm thấy công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến công tác quản lý hoạt động này. CVHT trước tiên là người hỗ trợ, cung cấp thông tin chương trình đào tạo cho sinh viên.