Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VE QUAN LY CƠ SỞ VAT CHAT VA THIẾT BỊ DẠY HỌC Ở CÁC TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG DAP UNG YÊU CAU CHUAN QUOC GIA 1. Tổng quan nghiên cứu van đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoai Trong sự nghiệp giáo dục, các nước trên thế giới đều có khuynh hướng hoàn thiện cơ sở vật chất và thiết bị dạy học nhằm đáp ứng nội dung, hình thức, phương pháp giáo dục trong thời ky mới. Đặc biệt các nước phat trién, đều quan tâm đầu tư cho cơ sở vật chất và thiết bị dạy học.
Ở Đức, Pháp, Nhật, Ba Lan, Hàn Quốc,. là những nước đầu tư rất nhiều cho cơ sở vật chất và thiết bị hiện đại, nhất là các phương tiện nghe nhìn Vào thé kỷ thứ XX, khi thé giới chuyển sang nền kinh tế đại công nghiệp, với nền kinh tế tri thức, thì các học thuyết, công trình nghiên cứu về quan lý và quan lý giáo dục tăng tốc phát triển. Có thể ké đến một số tác phẩm như: Quản lý công nghiệp với quản lý tổng quát của Henry Fayol (1841 - 1925), những nguyên tắc khoa học quản lý của F.Kondakop với tác phẩm Cơ sở lý luận của khoa học quản ly giáo duc, Brent Davies and Linda Ellinson năm 2005 với tac pham Lãnh dao nha trường thé ky XXI, Pam Robins, Harvay B.Alvif với Cẩm nang dành cho Hiệu trưởng; Chiến lược và lời khuyên thực tế giúp công việc hiệu quả hơn (2004, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội) Hội nghị chuyên đề các nước Châu A — Thái Bình Dương ở New Delhi năm 1972 về TBDH khoa học cho nhà trường đã bàn về yêu cầu sư phạm và tính kinh tế, sự cần thiết của TBDH cho hoạt động dạy và học Chủ dé hội nghị “Phát triển các phương tiện thích hợp dé day và học” được đưa ra thảo luận giữa các nước Châu A — Thái Bình Dương tô chức tại Tokyo năm 1979 đề cập đến những yêu cầu khi trang bị và sử dụng TBDH và nhiều tác phâm khác đã đề cập và nghiên cứu về giáo dục, về quan lý giáo duc dưới những góc độ khác nhau. Nhờ những hệ thống lý luận và các quan điểm về giáo dục, đã góp phần phát triển khoa học quản lý giáo dục ngày càng phong phú, đa dạng.
Những nghiên cứu ở Việt Nam Đối với công tác dạy và học ở các nhà trường, cơ sở vật chất và thiết bị dạy học là công cụ, phương tiện không thể thiếu của GV và HS trong quá trình dạy học. Với tu cách là công cụ lao động sư phạm cua GV va HS, trong những trường hợp sử dụng đúng quy trình, phù hợp với đặc trưng của từng bộ môn, CSVC và TBDH đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn thông tin cho học sinh trong học tập, tạo ra nhiều khả năng dé giao vién trién khai một cách sâu sắc, phong phú, sinh động bài giảng của mình, hình thành cho học sinh phương pháp học tập chủ động, tích cực. Chính vì vậy, công tác quản lý CSVC và TBDH đã được Đảng, Nhà nước, tổ chức và cá nhân quan tâm nghiên cứu Luật quản lý, sử dụng tài sản Nhà nước do Quốc hội khóa XII ban hành năm 2008 qui định về quản lý và sử dụng tài sản Nhà nước; Quyết định số 115/2008/QD-TTg ngày 27/8/2008 về việc công khai quản lý, sử dụng tai sản; Quyết định số 182- QD ngày 18 tháng 3 năm 1972 của Bộ Giáo dục - Dao tạo ban hành quy chế tạm thời về quản lý đồ dùng dạy học đã quy định: Đồ dùng dạy học là tài sản của Nhà nước giao cho Nhà trường quản lý. Vì vậy, bất kỳ đồ dùng được mua săm bằng nguồn vốn nào, do thầy trò tự làm, hoặc được biếu tặng đều phải được quản lý tốt.
Thông tư số 25/2003/TT-BGD&ĐT của Bộ Giáo dục - Đào tạo về hướng dẫn thực hiện mua sam thiết bi dạy học phục vụ việc đôi mới chương trình giáo dục phổ thông quy định: “Tăng cường công tác thanh tra giáo dục về mua săm, bảo quản và sử dụng thiết bị dạy học dé bảo đảm thực hiện nghiêm túc, có chất lượng, đạt hiệu quả trong việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông và đổi mới phương pháp dạy học”. Chương II - Điều 7 - Tiêu chuẩn 4 của Thông tư số 47/2012/TT-BGD DT quy định tiêu chuẩn về cơ sở vật chất - thiết bị dạy học dé công nhận trường đạt chuẩn quốc gia Chương VI - Thông tư số 12/2011TT-BGD ĐT điều lệ trường phổ thông qui định về tài sản của nhà trường Công văn số 4381/BGD DT-CSVCTBDH, ngày 6/7/2011 về lập bản kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất và mua sắm thiết bị dạy học trong các trường phổ thông. Như vậy, vấn đề đầu tư mua sắm và quản lý cơ sở vật chất - thiết bị dạy học trong trường học được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm và chỉ đạo có hệ thống, nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới nội dung, phương pháp, không ngừng nâng cao chất lượng dạy học trong giai đoạn hiện nay Đã có một số công trình nghiên cứu về vấn đề quản lý cơ sở vật chất và thiết bi dạy học ở Việt Nam. Lê Thanh Giang với dé tài: “Thue trạng và giải pháp quản lý việc sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên trường trung học phổ thông tỉnh Cà Mau” [19].
Tác giả đã thực hiện khảo sát và phân tích thực trang quan ly và sử dụng thiết bị day học ở một số trường Trung học phô thông tỉnh Cà Mau, từ đó đề xuất một số giải pháp quản lý việc sử dụng thiết bị dạy học của giáo viên nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng thiết bị dạy học ở các trường Trung học phô thông tỉnh Cà Mau Tran Văn Long với đề tài: “7c trạng và giải pháp quản lý cơ sở vật chất các trường tiêu học ở tinh Khánh Hoa” [31], đã đánh giá chi tiết thực trang quản lý cơ sở vật chat ở các trường tiêu học dé xác định được các giải pháp có tính khoa học và khả thi trong quản lý lý cơ sở vật chất các trường tiêu học, góp phần phát triển nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục tiểu học phù hợp với tình hình phát triển kinh tế - xã hội tinh Khánh Hòa. Trong cuốn: “Một số vấn dé ly luận và thực tiễn của việc xây dựng, sử dụng cơ sở vật chất và thiết bị dạy-học ở trường pho thông Việt Nam” [14], do tác gia Trần Quốc Đắc chủ biên, đã đưa ra một số quan điểm dé làm cơ sở cho việc sử dụng thiết bị dạy học, xác định vi trí, vai trò của ly cơ sở vật chất và thiết bị dạy học ở các trường THPT. Các tác giả cho rằng: “Thiết bị dạy học phải được sử dụng, hiệu quả sử dụng là mục tiêu cơ bản nhất và là mục tiêu duy nhất của toàn bộ công tác thiết bị trường học. Sử dung có hiệu qua thiết bị dạy học là một nhiệm vụ nặng né và có nhiều khó khăn của người giáo viên.
Điều này đòi hỏi người giáo viên phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ vững vàng so với yêu cầu sử dụng thiết bị dạy học. Người giáo viên không những cần hiểu biết về thiết bị dạy học, về kỹ thuật sử dụng chúng mà còn hiểu sâu về phương pháp dạy học với yêu cầu sử dụng TBDH: sử dụng TBDH với mục đích gì, lúc nào, liều lượng bao nhiêu, đặc điểm tâm lý HS ra sao; HS cần tham gia hoạt động như thế nào khi dạy học có sử dụng TBDH, sử dụng TBDH như thế nào để khơi dậy lòng say mê học tập, phát huy tính tích cực, năng lực sáng tạo và bồi đưỡng nhân cách cho HS” [14, tr. Những công trình nghiên cứu của các tác giả nêu trên đã xây dựng được một hệ thong ly luan về vai trò, tác dụng của CSVC và TBDH cũng như yêu cầu và nguyên tắc sử dụng nó trong quá trình dạy học. Lý luận về thiết bị dạy học đã được làm sáng tỏ trong khá nhiều công trình nghiên cứu và trong các cuốn giáo trình về lý luận dạy học.
CSVC và TBDH được xác định là một thành tố quan trọng trong quá trình day học, nhất là ở cấp THCS, nó đóng vai trò to lớn trong việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay. Tuy vậy, chưa có nghiên cứu nào về quản lý CSVC và TBDH ở các trường THCS huyện Sông 10 Lô, tỉnh Vĩnh Phúc theo hướng đáp ứng yêu cầu trường chuẩn quốc gia. Do đó, chúng tôi đi sâu tìm hiểu thực trạng quản lý CSVC và TBDH, nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học đáp ứng trường chuẩn quốc gia tại huyện Sông Lô, tỉnh Vĩnh Phúc. Một số khái niệm có liên quan đến vẫn đề nghiên cứu 1.
Quản lý và quản lý giáo dục, quản lý trường học 1. Quản ly Quan lý là một khái niệm tương đối rộng và có nhiều cách tiếp cận khác nhau, do vậy có nhiều cách đưa ra khái niệm này, sau đây là một số khái niệm được các tác giả đưa ra theo góc nhìn và cách tiếp cận của mình. - Các Mác đã viết về tầm quan trọng của quản lý như sau: Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên qui mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng đều cần đến một sự chỉ đạo dé điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ vận động của toàn bộ cơ thể, khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó. Một người độc tau vĩ cam tự điều khiển lay minh, con mét dan nhac thi can phai có nhạc trưởng [32, tr.
- Trong từ điển Việt Nam của Thanh Nghị năm 1958 có viết: Quản lý là trông nom coi sóc [33]. - Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: quản ly là tác động có mục dich, có kế hoạch của các chủ thé quản lý đến khách thé quản lý, nhằm thực hiện những mục tiêu, dự kiến. Trong một nội dung khác, tác giả có viết: Quản lý chính là sự tác động liên tục, có ý thức, có tô chức, hướng mục đích của chủ thể vào đối tượng, nhăm đạt được hiệu quả tối ưu nhất so với yêu cầu đặt ra [37]. - Cũng trong cùng công trình đó, tác gia cũng có nêu: Quản lý được coi là sự kết hợp của “Quản” và “Lý”.
“Quản” bao gồm sự coi giữ, coi sóc, tổ chức, điều khiến, trông nom và theo dõi. “Lý” được hiéu là lý luận về sự phân biệt phải trái, sự sửa sang, sự sắp xếp, sự thanh lý, sự dự đoán, cùng việc tạo ra thiết chế hành động. Quản lý đó là: là lý luận về sự cai quản [37].