Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học thực hiện chương trình GDPT 2018 ở trường THCS. Chương 2: Thực trạng quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học thực hiện chương trình GDPT 2018 ở các trường THCS thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái. Chương 3: Biện pháp quản lý cơ sở vật chất, thiết bị dạy học thực hiện chương trình GDPT 2018 ở các trường THCS thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CƠ SỞ VẬT CHẤT VÀ THIẾT BỊ DẠY HỌC THỰC HIỆN CHƢƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG 2018 Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu ở nước ngoài * Các công trình nghiên cứu về cơ sở vật chất Jan Amot Komensky (1592- 1670) nhà giáo dục Cộng hoà Séc được coi là một trong những ông tổ sư phạm ở Châu Âu và thế giới. Ông chủ trương giảng dạy bằng hoạt động, bằng sự quan sát trực tiếp, bằng sự tiếp xúc với sự vật trong đời sống hàng ngày. Theo ông: “…Việc dạy học phải bằng sự vật, hiện tượng.
Vì sự vật là thân thể, lời nói là cái ảo… lời nói mà không có sự vật là vỏ không có nhân, bao không có kiếm, bóng không có hình, thân không có hồn” (dẫn theo [15]). Từ những năm 1980 của thế kỷ XX, tại một số nước Bắc Mỹ và Châu Âu, xu hướng giáo dục đại chúng hóa đã dẫn đến việc gia tăng rất đông số lượng HS ở nhiều cấp học. Khi các quy mô giáo dục và nguồn lực đáp ứng tỉ lệ thuận với nhau thì các trường cần phải quan tâm đến hiệu suất sử dụng cũng như khai thác triệt để các nguồn lực. Đã có nhiều giải pháp được đưa ra nhằm khai thác tối đa công suất cũng như khắc phục sự thiếu hụt CSVC TBDH trong các nhà trường.
Hiện nay, trên phạm vi quốc tế đã có nhiều công trình nghiên cứu và phân tích yếu tố CSVC TBDH trong các nhà trường như: Lockwood G. với đề các giải pháp nhằm khuyến khích việc, chuyển đổi CSVC giữa các khu vực trong nhà trường. Đặc biệt, trong các hoạt động giám sát giáo dục toàn cầu năm 1995 thì UNESCO đã tiến hành cuộc khảo sát khá toàn diện về hiệu quả của việc khai thác diện tích sử dụng (diện tích hữu dụng và TB kèm theo) ở một số trường học ở nhiều nước, châu lục trên thế giới. Tổ chức lao động quốc tế ADB/ILO (Evaluation Rating criteria for the VTE Institution, ADB/ILO - Bangkok 1997) đưa ra 9 tiêu chuẩn và điểm đánh giá cơ sở giáo dục - đào tạo để kiểm định các nước thuộc tiểu vùng sông Mêkông.
Trong đó các điều kiện cơ sở hạ tầng của nhà trường: khuôn viên, cơ sở vật chất - kỹ thuật và thư viện chiếm 125/500 tổng điểm chung [23]. 6 Ngoài ra còn có tác giả Sanyal B. đã nghiên cứu khá cụ thể về thực trạng quản lý khai thác CSVC trong nhà trường như lớp học, phòng học, phòng thí nghiệm. ở các trường học ở Nga, Anh quốc, Hoa Kỳ, Canada, Bỉ, Hà Lan, Phần Lan, và một số nước Châu Mỹ La tinh, đồng thời ông đã đưa ra các đánh giá về hạn chế, tồn tại của công tác này [22].
* Các công trình nghiên cứu về thiết bị dạy học Nhà hoạt động văn hóa V.BêlinSki (1811-1848) đã có đóng góp to lớn vào sự phát triển lý thuyết trực quan dạy học. Tư tưởng của ông gắn liền với tư tưởng dạy học phát triển. Với nhà giáo dục K.Usinxki (1824-1870) thì nguyên tắc trực quan trong dạy học đã được nâng lên một trình độ cao hơn. Ông cho rằng trực quan là cái ban đầu và là nguồn gốc của mọi tri thức, cảm giác cung cấp tài liệu cho hoạt động trí tuệ của con người.
Trực quan làm cho quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh trở nên dễ dàng, tự giác, có ý thức và vững chắc hơn; tạo ra hứng thú học tập cho học sinh, là phương tiện tốt nhất giúp giáo viên gần gũi học sinh và là phương tiện quan trọng để phát triển tư duy cho học sinh. Công trình nghiên cứu của A. Lêonchep (1947) “Những vấn đề tâm lý học của tính tự giác học tập” đã chỉ ra những cơ sở tâm lí học của tài liệu trực quan. Sự phân tích các thuyết khoa học cho rằng, các luận điểm xuất phát từ bất kỳ lý thuyết trừu tượng nào và sự diễn giải các kết luận của nó cần gắn liền với các vật thực, cần dựa trên những cấu trúc trực quan nhất định.
“Phát hiện ra ý nghĩa vật lí của trừu tượng toán học, Omculianovski viết: là mặt cần thiết, quan trọng nhất của sự phát triển lý thuyết vật lí. Thiếu mặt này thì vật lí cuối cùng chỉ là những sơ đồ toán học chứ không phải là lý thuyết vật lí. Chỉ có mặt này mới cho các trừu tượng toán học một thể xác vật lí” (dẫn theo [23]). Ở các nước phát triển, hoạt động đào tạo nói chung và hoạt động dạy học nói riêng, CSVC TBDH là điều kiện cơ bản để tổ chức hoạt động của một cơ sở giáo dục.
Trong hệ thống các tiêu chí kiểm định chất lượng, CSVC TBDH chiếm một vị trí quan trọng. Chính vì vậy, trong các nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà quản lý, CSVC và TBDH được khẳng định về tính chất quan trọng; những vấn đề liên quan đến hệ thống, quy mô TBDH, quá trình quản lý, khai thác sử dụng,… cũng được nghiên cứu, xác định những nguyên tắc và giải pháp. Đặc biệt, vấn đề sử dụng, QL 7 TBDH theo định hướng phát triển năng lực người học, đảm bảo thực hiện CLGD đã có nhiều kiến giải mang tính khoa học, thực tiễn. Với mô hình quản lý TBDH trong trường học đã được UNESCO khởi xướng, khuyến khích và bảo trợ trong suốt hơn 50 năm qua tại Cộng hoà Pháp, Cộng hoà Séc, Ba Lan, Úc.
với tôn chỉ “Nhà trường phục vụ nhà trường” [23]. Tác giả David Dwyer đã nêu quan điểm về sử dụng TBDH hiệu quả khi nhà quản lý coi TBDH như là công cụ, chỉ báo phục vụ cho công tác đánh giá, dự báo chất lượng dạy học của nhà trường và môi trường dạy học của nhà trường. Ở Hoa Kỳ, ngay từ những giờ học đầu tiên về ngôn ngữ, các thiết bị dạy học hiện đại đã được đưa vào giảng dạy, những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ trước, ở bậc tiểu học, học sinh sử dụng trang Web Youtube.com như một tài nguyên học đường [1]. Qua các công trình nghiên cứu nước ngoài đã cho thấy các trường đề cao vai trò của CSVC TBDH.
Các hướng nghiên cứu tập trung vào hiệu quả sử dụng CSVC TBDH và các hoạt động quản lý của hiệu trường các trường nhằm thực hiện có khoa học, thực tiễn về nâng cao chất lượng CSVC TBDH. Những nghiên cứu ở trong nước * Các công trình nghiên cứu về cơ sở vật chất - Tác giả Nguyễn Văn Lê với công trình “Khoa học quản lý nhà trường”, tác giả tập trung giới thiệu về các phương pháp tổ chức và quản lý nhà trường. Riêng về nội dung quản lý CSVC trường học, tác giả đã đưa ra 5 nguyên tắc tổ chức và quản lý CSVC trường học; vấn đề bố trí tối ưu khu trường; việc tổ chức khoa học trong một lớp học; phòng học bộ môn; thư viện và phòng thí nghiệm (dẫn theo [11]). - Hai tác giả Hà Sĩ Hồ và Lê Tuấn với tựa sách “Những bài giảng quản lý trường học”, phần nội dung Hiệu trưởng quản lý CSVC trường học, tác giả đề cập đến khái niệm và vai trò của CSVC trường học, sau đó đi sâu vào các nghiệp vụ Hiệu trưởng quản lý việc xây dựng CSVC trường học (dẫn theo [10]).
Trong “Giáo trình bồi dưỡng Hiệu trưởng trường THCS, tập III”, tác giả Chu Mạnh Nguyên trình bày các nội dung quản lý và nghiệp vụ quản lý trường THCS của Hiệu trưởng; trong đó tác giả đề cập đến quản lý CSVC của Hiệu trưởng trường THCS, bao gồm các nội dung: những vấn đề chung về CSVC trường học; những vấn đề chung về quản lý CSVC trường học; quản lý trường sở; quản lý TBDH; quản lý thư viện trường học và quản lý đồ dùng học sinh (dẫn theo [18]). 8 Trong cuốn “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn của việc xây dựng, sử dụng CSVC và TBDH ở trường phổ thông Việt Nam”, nhóm tác giả của Viện Khoa học Giáo dục (do Trần Quốc Đắc chủ biên) đã hệ thống hóa một bước cơ sở lý luận và thực tiễn của việc sáng tạo và nâng cao hiệu quả sử dụng CSVC ở trường phổ thông. Trong đó các tác giả cung cấp những nội dung cơ bản, cụ thể về những yêu cầu chất lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng một số loại TBDH; góp phần đổi mới phương pháp dạy-học các môn học ở trường phổ thông (dẫn theo [5]). Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đề cập đến những vấn đề về cơ sở lý luận, thực tiễn quản lý CSVC trường học nhằm phù hợp với sự hiện đại hóa nội dung, 8 phương pháp và hình thức dạy học.
Đề tài Luận văn Thạc sỹ QLGD “Biện pháp quản lý CSVC tại trường Đại học Hùng Vương trong giai đoạn hiện nay" của tác giả Lê Cao Sơn (2010), đã đánh giá thực trạng việc quản lý CSVC của trường Đại học Hùng Vương và đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao chất lượng công tác quản lý CSVC của trường [18]. Tác giả Vương Ngọc Lê (2010) với đề tài “Thực trạng quản lý cơ sở vật chất ở các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ” đã đưa ra lý luận về công tác quản lý CSVC trường THCS, đánh giá thực trạng quản lý cơ sở vật chất ở các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ và đề xuất 03 nhóm biện pháp quản lý cơ sở vật chất ở các trường THCS huyện Vĩnh Thạnh, thành phố Cần Thơ [13]. Tác giả Nguyễn Thị Tình (2015) đề tài “Quản lý cơ sở vật chất ở các trường THCS thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh”, kết quả nghiên cứu đã đưa ra cơ sở lý luận về quản lý CSVC trong trường THCS, đánh giá thực trạng cơ sở vật chất ở các trường THCS thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh và đề xuất 6 biện pháp quản lý cơ sở vật chất ở các trường THCS thị xã Quảng Yên, tỉnh Quảng Ninh [20].