phần mở đầu, kết luận, lời cam đoan, lời cảm ơn, mục lục, tài liệu tham khảo và các danh mục, đề tài bao gồm 3 chƣơng: CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI QUÂN ĐỘI – HỘI SỞ CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ NHẰM TĂNG CƢỜNG HOẠT ĐỘNG QUẢN LÝ CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN TẠI NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI QUÂN ĐỘI – HỘI SỞ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHO VAY KHÁCH HÀNG CÁ NHÂN CỦA NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI 1. Hoạt động cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thƣơng mại 1. Khái niệm cho vay khách hàng cá nhân của ngân hàng thương mại Theo Nguyễn Minh Kiều (2013), cho vay NH là “quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ NH cho KH trong một thời hạn nhất định với một khoản chi phí nhất định”.
Theo Luật các tổ chức tín dụng (2010), thì “cho vay là việc thỏa thuận để tổ chức cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết sử dụng một tiền hoặc cam kết sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh NH và các nghiệp vụ cho vay khác.” Nhƣ vậy, có thể xác định hoạt động cho vay của NHTM bao gồm 3 nội dung: - Có sự chuyển nhƣợng quyền sử dụng vốn từ ngƣời sở hữu sang ngƣời sử dụng. - Sự chuyển nhƣợng này có thời hạn. - Sự chuyển nhƣợng này có kèm theo chi phí và rủi ro. Trong hoạt động kinh doanh của NH và các tổ chức tín dụng, có thể phân chia đối tƣợng KH cho vay thành hai nhóm là KH tập thể và KHCN, với KHCN bao gồm các cá nhân, hộ gia đình, các hộ kinh doanh cá thể.
Trong đó, cho vay KHCN đƣợc coi là “quá trình cung cấp tín dụng cho một KH, do đó không yêu cầu các thành viên khác trong nhóm làm người bảo lãnh, mà là dựa trên cơ sở đủ điều kiện cho vay dựa trên đánh giá đặc điểm KH và phân tích dòng tiền mặt” (Dellien & Leland, 2006). Khoản vay cá nhân là một loại khoản vay không có bảo đảm và giúp KH đáp ứng nhu cầu tài chính hiện tại. KH sẽ không cần phải cam kết bất kỳ bảo đảm hoặc tài sản thế chấp nào trong khi sử dụng khoản vay cá nhân và tổ chức cho vay cung cấp sự linh hoạt để sử dụng tiền theo nhu cầu KH. Đây đƣợc xem nhƣ giải pháp cho KH khi phát sinh những nhu cầu vốn chủ yếu cho hoạt động tiêu dùng (bao gồm cả tiêu dùng cho hoạt động sản xuất nhƣ mua máy móc, thiết bị, công cụ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 lao động, nguyên vật liệu phục vụ cho hoạt động sản xuất và tiêu dùng cho sinh hoạt) đang ngày một tăng cao trong nền kinh tế.
Theo đó, có thể định nghĩa cho vay cá nhân của NHTM là “hình thức tín dụng mà trong đó NHTM đóng vai trò là người cung cấp tín dụng cho KHCN hoặc hộ gia đình trong một thời hạn nhất định, dựa trên những đặc điểm của KH và phải có yêu cầu hoàn trả cả gốc và lãi với mục đích phục vụ đời sống hoặc phục vụ sản xuất kinh doanh dưới hình thức hộ kinh doanh cá thể.” Các NHTM Việt Nam hiện nay rất coi trọng phát triển loại hình cho vay này bởi hoạt động tiêu dùng là khâu rất quan trọng trong quá trình tái sản xuất. Hình thức cho vay này đóng vai trò quan trọng trong việc kích cầu tiêu dùng trong nền kinh tế, đẩy nhanh quá trình tái sản xuất đồng thời gián tiếp trở thành một công cụ điều tiết nền kinh tế của Nhà nƣớc. Đặc điểm, vai trò của cho vay đối với khách hàng cá nhân 1. Đặc điểm cho vay khách hàng cá nhân Theo Bùi Quang Đông (2019), do đặc điểm đối tƣợng KH, hoạt động cho vay KHCN có đầy đủ những đặc điểm chung của hoạt động cho vay, đồng thời có những khác biệt lớn với các loại hình tín dụng khác của NH.
Cho vay KHCN có đặc điểm chính nhƣ sau: Một là, đặc điểm về đối tƣợng cho vay. Là các cá nhân và hộ gia đình có nhu cầu vay vốn sử dụng cho những mục đích sinh hoạt tiêu dùng hay phục vụ hoạt động sản xuất kinh doanh của cá nhân hay hộ gia đình đó. Khác với các DN và tổ chức kinh tế, KHCN thƣờng có số lƣợng rất lớn, nhu cầu vay vốn rất đa dạng nhƣng thông thƣờng nhu cầu vay vốn của mỗi KHCN là không thƣờng xuyên và chịu sự ảnh hƣởng rất lớn bởi môi trƣờng kinh tế, văn hóa – xã hội. Chính vì vậy, ở mỗi khu vực khác nhau, nhu cầu vay vốn của KHCN cũng khác nhau tùy thuộc vào tình hình nền kinh tế, trình độ dân trí, thu nhập, tập quán, thói quen tiêu dùng của dân cƣ.
Hai là, thời hạn vay vốn. Tùy thuộc vào từng mục đích vay vốn và hình thức cho vay mà các khoản vay của KHCN có thời hạn: ngắn hạn, trung hay dài hạn. Đối với những khoản vay bổ sung vốn lƣu động phục vụ sản xuất kinh doanh, thời hạn LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 cho vay phù hợp với chu kỳ sản xuất kinh doanh của cá nhân và hộ gia đình do đó thời hạn vay thƣờng là ngắn hạn. Đối với những khoản vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân và hộ gia đình, thời hạn cho vay thƣờng là trung và dài hạn tùy thuộc vào khả năng đáp ứng nguồn vốn của NH, khả năng trả nợ của KH, đặc biệt đối với các khoản vay mua nhà, thời hạn cho vay có thể kéo dài tới 30 năm.
Ba là, quy mô và số lƣợng các khoản vay. Thông thƣờng quy mô mỗi khoản vay của KHCN thƣờng nhỏ hơn các khoản vay của DN. Tuy vậy, ở các NHTM số lƣợng các khoản vay KHCN thƣờng lớn, đặc biệt ở các NHTM hoạt động theo định hƣớng là NH bán lẻ số lƣợng này là rất lớn, do đó tổng quy mô các khoản vay KHCN thƣờng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng dƣ nợ của NH. Bốn là, chi phí cho vay.
Do các khoản vay KHCN thƣờng có quy mô nhỏ, số lƣợng các khoản vay này thƣờng rất lớn nên các NH thƣờng phải bỏ ra nhiều chi phí (cả về nhân lực và công cụ) trong việc phát triển KH, thẩm định, xét duyệt và quản lý các khoản vay do đó chi phí tính trên mỗi đồng cho vay KHCN thƣờng lớn hơn các khoản vay DN. Năm là, lãi suất cho vay. Lãi suất của các khoản vay KHCN thƣờng lớn hơn các khoản vay khác của NHTM. Nguyên nhân là do các chi phí của cho vay KHCN lớn, các khoản cho vay KHCN có mức độ rủi ro cao nhƣ đã đề cập ở trên và KHCN thƣờng kém nhạy cảm với lãi suất cho vay do KHCN thƣờng chỉ quan tâm đến số tiền đƣợc vay, thời hạn vay và số tiền phải trả theo định kỳ và không xem lãi suất là yếu tố quan trọng nhất trong việc quyết định vay vốn.
Cả ba nguyên nhân trên dẫn đến lãi suất cho vay KHCN thƣờng cao hơn các khoản vay khác của NHTM. Chẳng hạn, ở những nƣớc có hoạt động cho vay KHCN phát triển nhƣ Mỹ, lãi suất cho vay KHCN có thể cao gấp 3 – 4 lần lãi suất cho vay DN, ở Việt Nam lãi suất cho vay KHCN thông thƣờng cao hơn lãi suất cho vay DN từ 1,2 đến 1,5 lần. Sáu là, rủi ro cho vay. Các khoản cho vay KHCN thƣờng có nhiều rủi ro nhất đối với NH.
Sở dĩ nhƣ vậy là do tình hình tài chính của KHCN thƣờng thay đổi nhanh chóng tuỳ theo tình trạng công việc và sức khoẻ của họ. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh, các cá nhân và hộ gia đình thƣờng có trình độ quản lý yếu, thiếu LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 11 kinh nghiệm, trình độ kỹ thuật và khoa học công nghệ lạc hậu do đó khả năng cạnh tranh trên thị trƣờng bị hạn chế. Do đó, NH sẽ phải đối mặt với nhiều rủi ro khi ngƣời vay bị thất nghiệp, gặp tai nạn, phá sản. Mặt khác, việc thẩm định và quyết định cho vay KHCN thƣờng gặp khó khăn do vấn đề thông tin không đầy đủ, không rõ ràng, các thông tin về cá nhân thƣờng bị giấu kín, do đó chất lƣợng thẩm định KH không cao.
Điều này ảnh hƣởng đến các quyết định cho vay của NH. Chính vì vậy, các khoản vay KHCN thƣờng đƣợc quản lý chặt chẽ. Vai trò của cho vay khách hàng cá nhân Đối với NHTM, ngoài nhƣợc điểm rủi ro và chi phí cao, cho vay KHCN là một biện pháp tốt để mở rộng thị trƣờng tín dụng, khai thác tối đa nguồn vốn huy động đƣợc. Đồng thời mở rộng đƣợc quan hệ với KH, đa dạng hóa hoạt động kinh doanh và thực hiện phân tán rủi ro cho NHTM.
Đối với KH, cho vay KHCN đáp ứng nhu cầu vay vốn của cá nhân và hộ gia đình. Nó đặc biệt cần thiết và có ý nghĩa khi đáp ứng nhu cầu chi tiêu mang tính cấp bách nhƣ học hành, khám chữa bệnh… Tuy nhiên, nếu lạm dụng để vay tiêu dùng làm giảm khả năng tiết kiệm hoặc giảm chi tiêu trong tƣơng lai. Đối với nền kinh tế, cho vay KHCN trong đó cho vay tiêu dùng là đòn bẩy hữu hiệu cho việc kích cầu của Chính phủ. Ngoài ra, cho vay tiêu dùng kích thích gia tăng cầu về hàng hóa dịch vụ, qua đó làm tăng quy mô thị trƣờng về hàng hóa, dịch vụ, tạo ra sự cạnh tranh cao hơn giữa các nhà sản xuất cả về số lƣợng, mẫu mã, chủng loại sản phẩm, từ đó thúc đẩy sản xuất phát triển (Bùi Quang Đông, 2019).
Các hình thức và sản phẩm cho vay đối với khách hàng cá nhân Nhìn chung, có thể phân chia cho vay KHCN thành 3 nhóm chính là: Cho vay cá nhân, bảo lãnh cá nhân và phát hành, thanh toán thẻ tín dụng (Nguyễn Hoàng Đạt, 2019). Cho vay cá nhân Tại Việt Nam do phát triển chƣa lớn nên các sản phẩm cho cá nhân chủ yếu phát triển bề rộng tập trung vào sản phẩm truyền thống, áp dụng hầu hết cho mọi đối tƣợng KH: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 12 - Cho vay bất động sản: Phục vụ nhu cầu mua nhà, đất, xây dựng sửa chữa nhà. - Cho vay bổ sung vốn cho hộ kinh doanh cá thể. - Cho vay mua ô tô thế chấp bằng tài sản hình thành trong tƣơng lai.