CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHO VAY ĐỐI VỚI HỘ NGHÈO TẠI NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI 1. Lý luận chung về hộ nghèo 1. Khái niệm hộ nghèo Tại Hội nghị về chống nghèo ở khu vực Châu Á – Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tháng 9 năm 2003 tại Bangkok, Thái Lan đã đưa ra định nghĩa về nghèo như sau: “Nghèo là một bộ phận dân cư không được hưởng và thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tùy theo trình độ phát triển kinh tế xã hội phong tục tập quán của địa phương”. Nhà kinh tế học Mỹ Galbraith cũng quan niệm “Con người bị coi là nghèo khổ khi mà thu nhập của họ, ngay dù thích đáng để họ có thể tồn tại, rơi xuống rõ rệt dưới mức thu nhập cộng đồng.
Khi đó họ không thể có những gì mà đa số trong cộng đồng coi như cái cần thiết tối thiểu để sống một cách đúng mực”. Hội nghị thượng đỉnh Thế giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995 đưa định nghĩa về nghèo: “Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới một đô la mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại”. Cơ hội là một trong những kênh quan trọng nhất để giảm nghèo. Cơ hội có thể được xem là sự kết hợp giữa hai yếu tố: sở hữu tài sản (hoặc ít nhất được tiếp cận với tài sản) và tạo ra lợi nhuận từ tài sản đó.
Nhiều khi tài sản chính của người nghèo chỉ là sức lao động, nhưng nếu không có những hoạt động sử dụng sức lao động đó để tạo ra thu nhập tốt thì một mình tài sản này không đủ để đảm bảo cho sự tồn tại của hộ. Đó là các hoạt động sản xuất kinh doanh dù ở bất kỳ quy mô nào, nhưng để tiến hành các hoạt động này phải có vốn. Thiếu vốn kết hợp với thiếu cách làm ăn hiệu quả sẽ dẫn đến nghèo đói. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com 6 Ở nước ta căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội và mức thu nhập của nhân dân thì quan niệm về nghèo được hiểu như sau: “Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư chỉ có những điều kiện thỏa mãn những nhu cầu tối thiểu và cơ bản nhất trong cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống của cộng đồng xét trên mọi phương diện”.
Ở Việt Nam thì nghèo được chia thành các mức khác nhau đó là: Nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối và nghèo có nhu cầu tối thiểu. + Nghèo tương đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo có mức sống dưới mức sống trung bình của cộng đồng và địa phương đang xét. + Nghèo tuyệt đối: Là tình trạng một bộ phận dân cư thuộc diện nghèo không có khả năng thỏa mãn nhu cầu tối thiểu của cuộc sống: ăn, ở, đi lại. + Nghèo có nhu cầu tối thiểu: Đây là tình trạng một bộ phận dân cư có những đảm bảo tối thiểu để duy trì cuộc sống như đủ ăn, đủ mặc, đủ ở và một số sinh hoạt hằng ngày nhưng ở mức tối thiểu.
Hộ nghèo là tình trạng một số hộ gia đình chỉ thỏa mãn một phần nhu cầu nhu cầu tối thiểu của cuộc sống và có mức sống thấp hơn mức sống trung bình của cộng đồng theo tiêu chí quy định được Chính phủ công bố từng thời kỳ. Tiêu chí đánh giá chuẩn nghèo ở nước ta giai đoạn 2015 đến 2020 được quy định như sau: Đối với khu vực thành thị: Hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân đầu người một tháng 500.000 đồng/người/tháng trở xuống. Đối với khu vực nông thôn: Hộ nghèo là những hộ có mức thu nhập bình quân đầu người một tháng 400.000 đồng/người/tháng trở xuống. Đặc điểm của hộ nghèo “Nghèo đói xuất hiện ở những hộ có thu nhập thấp và bấp bênh, thu nhập của bộ phận lớn dân cư nằm ở khu vực giáp ranh nghèo, vì vậy chỉ điều chỉnh nhỏ về chuẩn nghèo cũng có thể làm cho tỷ lệ nghèo tăng lên.
Nghèo đói tập trung ở các vùng có có điều kiện sống khó khăn, tài nguyên thiên nhiên nghèo nàn, khí hậu khắc nghiệt, khiến cho các điều kiện sản xuất bị Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com 7 ảnh hưởng tiêu cực. Sự kem phát triển về hạ tầng cũng là nguyên nhân đặc biệt khiến cho các vùng này bị tách biệt với các vùng khác làm hạn chế khả năng phát triển kinh tế. Nghèo đói là hiện tượng phổ biến ở nông thôn với trên 90% số người nghèo cả nước. Phần đông số người nghèo là nông dân với trình độ tay nghề thấp, khó khăn trong việc tiếp cận các nguồn nhân lực trong sản xuất như vốn, công nghệ, kỹ thuật, thị trường tiêu thụ.
Những người dân nghèo thường không có điều kiện chuyển đổi sang các ngành phi nông nghiệp đem lại thu nhập cao và ổn định hơn. Trong khu vực thành thị, tuy tỷ lệ nghèo đói thấp hơn và mức sống trung bình cao hơn mức sống trung bình cả nước nhưng mức độ cải thiện điều kiện sống không đồng đều. Đa số người nghèo ở khu vực thành thị làm việc trong khu vực kinh tế phi chính thức, công việc không ổn định ảnh hưởng đến sự ôn định của thu nhập”. Cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới hiện nay làm cho nhiều công ty, doanh nghiệp (nhất là dệt may) không tiêu thụ được sản phẩm, không có tiền thuê nhân công, dẫn đến tình trạng công nhân bị thất nghiệp, làm cho điều kiện sống ngày càng khó khăn hơn.
Đói nghèo mang tính chất phân vùng rõ rệt, tỷ lệ đói nghèo ở các vùng sâu, vùng xa, nơi các dân tộc ít người sinh sống cao hơn so với vùng thành thị nông thôn. Do điều kiện sống ở vùng sâu, vùng xa khó khăn hơn, địa lý cách biệt, khả năng tiếp cận với các điều kiện sản xuất và dịch vụ còn nhiều hạn chế, hạ tầng cơ sở kem phát triển càng làm tăng tỷ lệ đói nghèo trong khu vực này. Tổng quát về công tác quản lý hoạt động cho vay đối với hộ nghèo tại NHCS xã hội 1. Khái niệm Theo F.W Taylor (2008), “quản lý là hoàn thành công việc của mình thông qua người khác và biết được một cách chính xác họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” (W.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com 8 Theo Henrry Fayol (1923), “quản lý là một tiến trình bao gồm tất cả các khâu: Lập kế hoạch, tổ chức, phân công, điều khiển và kiểm soát các nỗ lực của cá nhân, bộ phận và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất khác của tổ chức để đạt được mục tiêu đề ra” (Henri Fayol, 1923).H Donnelly, James Gibson và J.M Ivancevich (1989) “Quản lý là một quá trình do một người hay nhiều người thực hiện nhằm phối hợp các hoạt động của những người khác để đạt được kết quả mà một người hành động riêng rẽ không thể nào đạt được” (J.H Donnelly, James Gibson và J. Theo quan niệm quản lý nói trên, quản lý tín dụng đối với hộ nghèo là việc quản lý công tác cho vay vốn từ Ngân hàng chính sách xã hội thông qua kênh nhận ủy thác và tổ tiết kiệm và vay vốn đến đúng đối tượng vay theo quy định của Chính phủ, nhằm sử dụng hiệu quả, đúng mục đích nguồn vốn vay nhờ quản lý nguồn vốn cho vay. Quản lý cho vay đối với hộ nghèo tại NHCSXH thể hiện ở việc Ngân hàng cung cấp cho hộ nghèo sự giúp đỡ về vốn vay cần thiết để hộ nghèo có vốn tập trung kinh doanh, sản xuất, nâng cao đời sống, từ đó đạt được mục tiêu thoát nghèo và ổn định kinh tế trên phạm vi quốc gia, thu hẹp dần khoảng cách giàu nghèo, ổn định chính trị giữa các vùng miền. Đặc điểm và vai trò 1.
Đặc điểm Quản lý hoạt động cho vay đối với hộ nghèo tại NHCS xã hội có một số đặc điểm như sau (Phan Ngọc Mẫn, 2009): Số hóa bởi Trung tâm Học liệu và Công nghệ thông tin – ĐHTN http://lrc.vn download by : skknchat@gmail.com 9 - Công tác quản lý phải phù hợp với thể chế kinh tế thị trường. Theo đó, quản lý hoạt động cho vay đối với hộ nghèo coi nền tảng là cơ chế thị trường để định hướng áp dụng các công cụ quản lý phù hợp. - Công tác quản lý này tại từng giai đoạn được tiến hành theo phương pháp và bằng các công cụ khác nhau, khác với các phương pháp và công cụ trước đó. Do đối tượng là hộ nghèo nên Nhà nước buộc phải quản lý bằng pháp luật.
Việc không siết chặt kỷ luật, kỷ cương, coi nhẹ giáo dục, pháp chế trong hoạt động kinh tế khiến cho nhiều hộ vay vốn không tuân thủ pháp luật, có những hành vi gây rối loạn, gây tổn thất cho Nhà nước và làm suy giảm uy tín, quyền lực của Nhà nước. Do đó, để có thể khắc phục tình trên và phần nào tăng cường quyền lực của Nhà nước, lập pháp và tư pháp đã được tăng cường. Đối với lập pháp, mối quan hệ xã hội trong lĩnh vực cho vay dần dần được đưa vào khuôn khổ pháp luật, và các đạo luận được xây dựng một cách đồng bộ, chính xác, rõ ràng và hợp lý hơn. Đối với tư pháp, tất cả các khâu từ giám sát, phát hiện, điều tra, công tố đến xét xử, thi hành án đều phải thực hiện nghiêm minh, đảm bảo không bỏ sót tội phạm và xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm, chấm dứt tất cả hành động xử nhẹ, xử nửa vời hay xử nhưng không thi hành án,.
- Việc Việt Nam gia nhập nhiều tổ chức quốc tế như ASEAN, APEC, WTO hay ký nhiều hiệp định thương mại khiến cho kinh tế Việt Nam có nhiều bước phát triển vượt bậc. Theo đó, chương trình hành động giúp các hộ nghèo xóa đói giảm nghèo được nhà nước chú trọng, định hướng về mặt chiến lược qua các công cụ chính sách kinh tế vĩ mô, pháp luật, môi trường pháp lý, thể chế, môi trường hoạt động, cơ hội kinh doanh, thoát nghèo cho các hộ nghèo. Nhà nước cũng hỗ trợ, điều tiết, kiểm tra, giám sát việc tuân thủ pháp luật của hộ nghèo, giúp cải thiện cuộc sống, có việc làm ổn định. Nhờ đó, nền kinh tế trên cả nước có nhiều chuyển biến tích cực hơn.