Tổng quan nghiên cứu

Trong giai đoạn 2017 - 2019, công tác an sinh xã hội tại huyện Phù Ninh, tỉnh Phú Thọ ghi nhận những chuyển biến tích cực khi tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 3,38% (tương đương 992 hộ) năm 2017 xuống còn 2,33% (tương đương 712 hộ) vào cuối năm 2019. Mặc dù đạt tốc độ giảm bình quân khoảng 0,5%/năm và thấp hơn đáng kể so với mức bình quân 5,58% của toàn tỉnh Phú Thọ, kết quả giảm nghèo tại địa phương vẫn đối mặt với nguy cơ thiếu bền vững. Thu nhập bình quân của nhóm hộ mới thoát nghèo chỉ đạt xấp xỉ 500.000 đồng/người/tháng, chỉ bằng 1/5 mức thu nhập bình quân toàn huyện (đạt khoảng 46 triệu đồng/người/năm vào năm 2019). Bên cạnh đó, sự chênh lệch mức sống giữa khu vực đô thị trung tâm và các xã vùng cao phía Bắc vẫn còn rất lớn.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm đặt ra là làm thế nào để hoàn thiện quy trình quản lý nhà nước đối với chính sách giảm nghèo, từ khâu ban hành hướng dẫn, phân bổ nguồn lực, triển khai thực thi đến công tác kiểm tra, giám sát nhằm ngăn chặn triệt để tình trạng tái nghèo. Mục tiêu cụ thể của luận văn là hệ thống hóa cơ sở lý luận về quản lý chính sách giảm nghèo đa chiều, phân tích toàn diện thực trạng triển khai các chính sách hỗ trợ sản xuất, y tế, giáo dục, tín dụng ưu đãi tại 16 xã và 1 thị trấn thuộc huyện Phù Ninh trong giai đoạn 2017 - 2019, từ đó xác định các điểm nghẽn quản lý và đề xuất hệ thống giải pháp định hướng đến năm 2025.

Nghiên cứu mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc đối với ngành Quản lý kinh tế, cung cấp luận cứ khoa học giúp chính quyền địa phương tối ưu hóa nguồn vốn đầu tư công, nâng cao năng lực bộ máy hành chính và bảo đảm an sinh xã hội bền vững trên địa bàn.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu vận dụng lý thuyết chu trình chính sách công (Public Policy Cycle) kết hợp cùng phương pháp tiếp cận nghèo đa chiều (Multidimensional Poverty Approach). Chu trình quản lý chính sách công bao gồm ba giai đoạn trọng yếu: xây dựng và ban hành văn bản hướng dẫn; tổ chức thực thi chính sách thông qua huy động và điều phối nguồn lực; kiểm tra, giám sát và đánh giá hiệu quả tác động.

Khái niệm giảm nghèo bền vững được định hình là quá trình hỗ trợ người dân đạt mức sống vượt qua chuẩn nghèo và duy trì vững chắc điều kiện kinh tế - xã hội ngay cả khi đối mặt với rủi ro thiên tai, dịch bệnh hay biến động kinh tế vĩ mô. Nghiên cứu sử dụng khung chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đo lường sự thiếu hụt thông qua 5 dịch vụ xã hội cơ bản (y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch và vệ sinh, thông tin) cùng 10 chỉ số đo lường cụ thể.

Cơ sở pháp lý nền tảng của đề tài gắn liền với Nghị quyết số 80/NQ-CP về định hướng giảm nghèo bền vững, Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP về hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững, cùng Quyết định số 33/2015/QĐ-TTg về chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng phương pháp hỗn hợp kết hợp giữa phân tích định tính và định lượng. Nguồn dữ liệu thứ cấp được thu thập toàn diện từ các báo cáo định kỳ giai đoạn 2017 - 2019 của Chi cục Thống kê huyện Phù Ninh, Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội, Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện và các nghị quyết phát triển kinh tế - xã hội của Huyện ủy, Hội đồng nhân dân huyện.

Đối với dữ liệu sơ cấp, nghiên cứu tiến hành khảo sát thực địa bằng phiếu hỏi cấu trúc với cỡ mẫu 120 hộ gia đình thuộc diện hộ nghèo, cận nghèo và mới thoát nghèo. Phương pháp chọn mẫu phân tầng kết hợp chọn mẫu ngẫu nhiên được áp dụng tại 3 xã đại diện cho 3 tiểu vùng sinh thái - kinh tế của huyện: xã Liên Hoa (đại diện vùng đồi gò khó khăn phía Bắc), xã An Đạo (đại diện vùng ven sông phát triển tiểu thủ công nghiệp) và xã Phú Lộc (đại diện vùng trung tâm đồng bằng).

Lý do lựa chọn phương pháp này nhằm đảm bảo tính đại diện cao về mặt địa lý và phản ánh khách quan mức độ tiếp cận chính sách của người dân. Toàn bộ thông tin được xử lý, mã hóa và phân tích thông qua phần mềm MS Excel bằng các phương pháp thống kê mô tả, thống kê so sánh và phân tích chuỗi thời gian nhằm đánh giá sự biến động của các chỉ tiêu thu nhập và tỷ lệ tiếp cận dịch vụ công.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, tỷ lệ hộ nghèo và cận nghèo tại huyện Phù Ninh giảm đều qua các năm nhưng chưa đồng đều giữa các khu vực. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 3,38% năm 2017 xuống 2,74% năm 2018 và còn 2,33% năm 2019. Số hộ cận nghèo giảm tương ứng từ 2,33% (689 hộ) xuống 1,88% (574 hộ). So sánh với mặt bằng chung năm 2019, tỷ lệ nghèo của Phù Ninh (2,33%) thấp hơn tỉnh Phú Thọ (5,58%) và cả nước (4,0%). Tuy nhiên, khoảng cách giữa thị trấn Phong Châu (hộ nghèo 1,51%, cận nghèo 0,6%) và các xã vùng cao phía Bắc như xã Gia Thanh (hộ nghèo 3,97%, cận nghèo 2,59%) còn rất lớn.

Thứ hai, các chính sách an sinh xã hội trực tiếp mang lại hiệu quả rõ rệt. Nhóm hộ nghèo thuộc diện chính sách người có công giảm mạnh 48,8%, từ 424 hộ năm 2017 xuống còn 217 hộ năm 2019. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn huyện đạt 86% vào năm 2019 và tăng lên xấp xỉ 90% năm 2020. Huyện đã hoàn thành xóa nhà tạm cho các hộ khó khăn theo Quyết định số 33/2015/QĐ-TTg, nâng tỷ lệ kiên cố hóa nhà ở nông thôn.

Thứ ba, cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực hỗ trợ giải quyết việc làm. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân của huyện giai đoạn 2016 - 2020 đạt 8,75%/năm, cơ cấu công nghiệp - xây dựng chiếm 57,3%, dịch vụ chiếm 25,1%, nông lâm thủy sản giảm còn 17,6%. Trong 5 năm, huyện đã giải quyết việc làm cho 8.548 lao động, trong đó có 6.485 lao động có việc làm mới và 1.150 lao động đi xuất khẩu nước ngoài.

Thảo luận kết quả

Các phát hiện nghiên cứu phản ánh bức tranh đa chiều về công tác quản lý giảm nghèo. Để biểu diễn trực quan kết quả này, dữ liệu có thể được trình bày thông qua biểu đồ cột chồng so sánh tỷ lệ giảm nghèo giữa các tiểu vùng qua từng năm, kết hợp bảng ma trận phân tích mức độ thiếu hụt 10 chỉ số an sinh xã hội.

Nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng chậm thoát nghèo tại các xã phía Bắc là do địa hình đồi núi dốc 5 - 15 độ, đất canh tác nông nghiệp manh mún, trong khi tổng diện tích tự nhiên 15.648,01 ha thì đất nông lâm nghiệp chiếm tới 72,58%. Đa phần hộ nghèo rơi vào tình trạng thuần nông, thiếu vốn và thiếu kỹ năng ứng dụng khoa học kỹ thuật.

Về mặt quản lý, nghiên cứu chỉ ra một số tồn tại: công tác điều tra rà soát hộ nghèo ở cấp cơ sở có thời điểm chưa chặt chẽ, chính sách hỗ trợ sản xuất đôi lúc còn dàn trải. Hoạt động đào tạo nghề nông thôn chưa gắn kết sâu với nhu cầu tuyển dụng của các doanh nghiệp lớn đóng trên địa bàn như Nhà máy giấy Bãi Bằng hay các khu công nghiệp phụ cận. Khi đối chiếu với bài học từ huyện Quan Hóa (Thanh Hóa) với mức giảm nghèo 6,32%/năm hay huyện Văn Bàn (Lào Cai) giảm 5,14%/năm, Phù Ninh cần tăng cường hơn nữa tính chủ động của người dân, xóa bỏ tâm lý trông chờ ỷ lại vào trợ cấp nhà nước.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cao năng lực điều tra, rà soát và phân loại hộ nghèo đa chiều. Ủy ban nhân dân huyện Phù Ninh chỉ đạo Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân các xã và Mặt trận Tổ quốc tổ chức tập huấn nghiệp vụ cho 100% cán bộ cơ sở định kỳ vào quý 3 hàng năm giai đoạn 2021 - 2025. Ứng dụng công nghệ thông tin trong số hóa dữ liệu hộ nghèo nhằm đảm bảo tính minh bạch, chính xác 100% trong khâu bình xét đối tượng thụ hưởng.

Thứ hai, tối ưu hóa chính sách tín dụng ưu đãi gắn với phát triển sinh kế chuỗi giá trị. Chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội huyện Phù Ninh phối hợp cùng Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tăng trưởng dư nợ cho vay hộ nghèo và cận nghèo từ 10% - 15%/năm. Ưu tiên giải ngân vốn vay trung và dài hạn cho 48 trang trại nông lâm kết hợp và các làng nghề truyền thống như nón lá Gia Thanh, chè Chùa Tà Tiên Phú, chế biến cá thính Bình Phú.

Thứ ba, đổi mới công tác dạy nghề và liên kết giải quyết việc làm. Phòng Lao động - Thương binh và Xã hội huyện ký kết hợp tác đào tạo theo đơn đặt hàng với các doanh nghiệp công nghiệp, phấn đấu mỗi năm đào tạo nghề và tạo việc làm mới cho 1.600 - 1.700 lao động, nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 70% vào năm 2025.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát liên ngành và nâng cấp hạ tầng thiết yếu. Ban Chỉ đạo Giảm nghèo huyện thiết lập lịch kiểm tra định kỳ 2 lần/năm tại các xã điểm nghèo phía Bắc. Ủy ban nhân dân huyện tập trung phân bổ nguồn vốn đầu tư công hoàn thiện hệ thống giao thông nông thôn cứng hóa từ 72,5% lên 85%, đảm bảo hạ tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện xuống dưới 1,5% trước năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất bao gồm cán bộ lãnh đạo và chuyên viên tham mưu tại Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh Phú Thọ, Ủy ban nhân dân huyện Phù Ninh cùng các phòng ban chuyên môn. Luận văn cung cấp khung phân tích thực chứng và bộ chỉ tiêu đo lường nghèo đa chiều giúp cơ quan quản lý hoạch định kế hoạch an sinh xã hội giai đoạn 2021 - 2025.

Nhóm thứ hai là các giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Quản lý kinh tế, Quản lý công và Kinh tế phát triển. Tài liệu này đóng vai trò là một case study điển hình về quản lý chính sách giảm nghèo cấp huyện ở vùng trung du miền núi phía Bắc.

Nhóm thứ ba là cán bộ quản lý tín dụng tại Ngân hàng Chính sách Xã hội và các tổ chức chính trị - xã hội như Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Phụ nữ huyện Phù Ninh. Công trình giúp nhận diện chính xác nhu cầu vay vốn và rào cản sinh kế của 712 hộ nghèo để thiết kế các chương trình ủy thác tín dụng phù hợp.

Nhóm thứ tư là các doanh nghiệp, hợp tác xã nông lâm nghiệp và nhà đầu tư tại tỉnh Phú Thọ đang tìm kiếm mô hình liên kết đào tạo nghề và giải quyết việc làm bền vững cho lao động địa phương.

Câu hỏi thường gặp

Khung chuẩn nghèo nào được áp dụng làm căn cứ phân tích chính trong luận văn? Nghiên cứu áp dụng chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016 - 2020 theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, đánh giá hộ nghèo dựa trên tiêu chí thu nhập dưới 700.000 đồng/người/tháng ở nông thôn và mức độ thiếu hụt từ 3 chỉ số thuộc 5 dịch vụ xã hội cơ bản.

Tỷ lệ hộ nghèo của huyện Phù Ninh có sự biến động như thế nào trong giai đoạn 2017 - 2019? Tỷ lệ hộ nghèo của huyện giảm liên tục và đều đặn từ 3,38% (992 hộ) năm 2017 xuống còn 2,74% năm 2018 và đạt 2,33% (712 hộ) vào năm 2019, đạt tốc độ giảm bình quân khoảng 0,5%/năm và hoàn thành các chỉ tiêu đề ra.

Đâu là nguyên nhân cốt lõi khiến kết quả giảm nghèo tại huyện Phù Ninh chưa thực sự vững chắc? Nguyên nhân chủ yếu do thu nhập của nhóm hộ mới thoát nghèo còn rất thấp (khoảng 500.000 đồng/người/tháng), sinh kế phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp đồi rừng dễ chịu tổn thương bởi thời tiết và dịch bệnh, trong khi kỹ năng nghề phi nông nghiệp còn hạn chế.

Sự phân hóa nghèo đói theo vùng địa lý tại Phù Ninh thể hiện ra sao? Có sự chênh lệch rõ rệt giữa trung tâm và vùng núi: thị trấn Phong Châu có tỷ lệ hộ nghèo chỉ 1,51% và cận nghèo 0,6%, trong khi các xã miền núi phía Bắc như Gia Thanh có tỷ lệ hộ nghèo lên tới 3,97% và cận nghèo 2,59%.

Mục tiêu trọng tâm về tỷ lệ hộ nghèo mà luận văn đề xuất cho huyện Phù Ninh đến năm 2025 là gì? Luận văn đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ nhằm duy trì tốc độ giảm nghèo bền vững, phấn đấu giảm tỷ lệ hộ nghèo toàn huyện xuống dưới 1,5% vào năm 2025 và ngăn chặn hoàn toàn nguy cơ tái nghèo diện chính sách.

Kết luận

  • Tỷ lệ hộ nghèo tại huyện Phù Ninh đã giảm vững chắc từ 3,38% năm 2017 xuống 2,33% năm 2019, thấp hơn mức bình quân 5,58% của tỉnh Phú Thọ.
  • Công tác hỗ trợ an sinh xã hội được thực thi đồng bộ, giúp 100% trạm y tế và trường học công lập đạt chuẩn quốc gia, tỷ lệ bảo hiểm y tế đạt 86%.
  • Hạn chế lớn nhất trong quản lý chính sách là sự chênh lệch giàu nghèo giữa các tiểu vùng và thu nhập hộ thoát nghèo mới chỉ đạt khoảng 500.000 đồng/người/tháng.
  • Đóng góp khoa học then chốt của luận văn là hệ thống hóa khung quản lý chính sách giảm nghèo đa chiều cấp huyện và xác lập giải pháp gắn kết đào tạo nghề với doanh nghiệp.
  • Lộ trình thực hiện giải pháp giai đoạn 2021 - 2025 yêu cầu các cấp chính quyền địa phương khẩn trương số hóa quy trình rà soát hộ nghèo và tăng cường giám sát liên ngành.

Các nhà quản lý chính sách, nghiên cứu sinh và cán bộ chuyên trách an sinh xã hội hãy khai thác chi tiết các dữ liệu thực chứng và giải pháp trong luận văn để nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước tại địa phương.