Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CHÍNH SÁCH GIẢM NGHÈO BỀN VỮNG 1. Một số khái niệm nghèo và giảm nghèo bền vững 1. Khái niệm, chỉ tiêu và chuẩn mực nghèo của thế giới 1. Khái niệm về nghèo của thế giới.
Khái niệm nghèo của một số tổ chức quốc tế: + Tổ chức Y tế thế giới định nghĩa theo thu nhập. Theo đó một người là nghèo khi thu nhập hàng năm ít hơn một nửa mức thu nhập bình quân trên đầu người hàng năm (Per Capita Income) của quốc gia. + Ngân hàng Thế giới xem thu nhập 1 đôla Mỹ/ ngày theo sức mua tương đương của địa phương so với mức trung bình trên thế giới để thoả mãn nhu cầu sống như là chuẩn tổng quát cho nạn nghèo tuyệt đối. Từ những bước sau đó giá trị ranh giới nghèo tuyệt đối (chuẩn) cho từng địa phương hay từng vùng được xác định, từ 2 đô la cho khu vực Mỹ la tinh và Carribe đến 4 đô la cho những nước Đông âu cho đến 14,40 đô la cho những nước công nghiệp (Chương trình phát triển Liên hợp Quốc 1997).
+ Tổ chức Liên hợp Quốc đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: Nghèo tuyệt đối là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng những nhu cầu cơ bản tối thiểu. Nhu cầu cơ bản tối thiểu cho cuộc sống là những đảm bảo về cuộc sống ở mức tối thiểu về ăn, mặc, ở, đi lại, giao tiếp xã hội, vệ sinh, y tế và giáo dục. Trên cơ sở những quan niệm về nghèo như trên, hội nghị chống đói nghèo Khu vực Châu á - Thái bình Dương do ESCAP tổ chức tại Bangkok - Thái Lan vào tháng 9 năm 1993 đã đưa ra một định nghĩa chung về nghèo: Nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn các nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của từng địa phương. Khái niệm nghèo có thể thống nhất về mặt định tính song không thể thống nhất về mặt định lượng.
Bởi mỗi quốc gia khác nhau thì có mức sống của người dân khác nhau hoặc ngay trong một quốc gia mức sống các vùng, miền cũng có sự khác nhau. Hơn nữa mặt định lượng của mức nghèo cũng biến động theo thời gian tương ứng với sự biến động về sự phát triển kinh tế-xã hội của quốc gia đó. Do đó con người LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 mặc dù sống ở xã hội nào thì cũng cần có những nhu cầu tối thiểu cần thiết. Trong số các nhu cầu đó thì nhu cầu về ăn, ở, mặc và đi lại được coi là những nhu cầu thiết yếu nhất để đảm bảo cuộc sống.
Tuỳ theo mức độ đảm bảo nhu cầu tối thiểu mà nghèo đói của dân cư được chia thành nghèo hoặc rất nghèo. Sự thoả mãn những nhu cầu cơ bản trên tuỳ thuộc vào sự thừa nhận của xã hội và trình độ phát triển kinh tế, phong tục tập quán của từng địa phương. Chỉ tiêu đánh giá nghèo của thế giới. Chỉ tiêu đánh giá nghèo trong một quốc gia xuất phát từ việc xác định để đưa ra một giới hạn cho sự nghèo của quốc gia mình.
Các quốc gia khác nhau sử dụng các tiêu chuẩn khác nhau để đánh giá mức độ giàu nghèo. Tình trạng nghèo ở mỗi quốc gia khác nhau về cả mức độ và số lượng, thay đổi theo thời gian và không gian. Trên thế giới người ta đang đưa ra những chỉ tiêu để đánh giá nước giàu, nghèo là thu nhập bình quân trên đầu người, tỷ lệ hộ giàu và hộ nghèo. Khi đánh giá hộ giàu và hộ nghèo để thực hiện giảm nghèo thì giới hạn nghèo được hiểu là giới hạn thu nhập bình quân tính theo đầu người.
Quy mô sự nghèo của một vùng hoặc quốc gia được xác định bằng tỷ lệ hộ nghèo/tổng số dân cư thuộc vùng hoặc quốc gia đó. Để đánh giá mức nghèo của một nước hay một địa phương, có nhiều tiêu chuẩn được áp dụng như chỉ số nghèo của con người (Human Poverty Index-HPI), GDP… Trong đó, chỉ số HPI bao gồm: tỷ lệ số người sống dưới 40 tuổi; tỷ lệ mù chữ; tỷ lệ người không được tiếp cận nguồn nước sạch, dịch vụ y tế và tỷ lệ trẻ em dưới 4 tuổi bị suy dinh dưỡng; mức chênh lệch về thu nhập hoặc về chi tiêu giữa 20% dân cư giàu nhất với 20% dân cư nghèo nhất. Chuẩn mực nghèo của thế giới. Chuẩn nghèo là mức thu nhập (hoặc chi tiêu) bình quân đầu người mà một quốc gia quy định dùng làm tiêu chuẩn để xác định người nghèo hoặc hộ nghèo.
Theo đó, những người hoặc những hộ có thu nhập thấp (hoặc chi tiêu) bình quân đầu người thấp hơn chuẩn nghèo được coi là người nghèo hoặc hộ nghèo. Chuẩn nghèo biến động theo không gian và thời gian. Xác định chuẩn nghèo đúng là hết sức cần thiết đồng thời khi hoạch định chính sách các nhà quản lý phải hiểu rõ phương pháp tính chuẩn nghèo ảnh hưởng thế nào đến việc phân bổ nguồn lực giảm nghèo của quốc gia. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 Để xác định rõ được hiện trạng nghèo cần thông qua các tiêu chuẩn nhất định, hai căn cứ làm chuẩn mực xác định nghèo: - Căn cứ vào nhu cầu cơ bản.
Đây là nhu cầu thiết yếu cho cuộc sống tối thiểu. Những người nghèo thường chưa vượt qua được ngưỡng tối thiểu này. - Căn cứ vào mức thu nhập thực tế của các hộ gia đình so với mức thu nhập trung bình của toàn xã hội. Khái niệm, chỉ tiêu và chuẩn mực nghèo của Việt Nam 1.
Khái niệm về nghèo của Việt Nam Dựa vào những khái niệm chung do các tổ chức quốc tế đưa ra và căn cứ vào thực trạng kinh tế xã hội ở Việt Nam, trong chiến lược toàn diện về tăng trưởng và giảm nghèo bền vững đến năm 2020, Việt Nam thừa nhận định nghĩa chung về nghèo do Hội nghị khu vực Châu Á -Thái Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc (Thái Lan) tháng 9/1993 đã đưa ra. Đồng thời vấn đề nghèo ở Việt Nam còn được nghiên cứu ở các cấp độ khác nhau như cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng. Chỉ tiêu đánh giá hộ nghèo của Việt Nam. Căn cứ Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg, ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020, đánh giá hộ nghèo ở Việt Nam căn cứ trên 02 loại chỉ tiêu chủ yếu: - Các tiêu chí về thu nhập; - Các tiêu chí về mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản: giáo dục, y tế, nhà ở, dịch vụ viễn thông,.
Chuẩn mực đánh giá hộ nghèo của Việt Nam. Theo Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 về việc chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều giai đoạn 2016-2020, các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016-2020 cụ thể: - Các tiêu chí về thu nhập: Chuẩn nghèo là dưới 700.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và dưới 900.000 đồng/người/tháng ở khu vực thành thị. - Tiêu chí mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản: Cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản (05 dịch vụ): y tế; giáo dục; nhà ở; nước sạch và vệ sinh; thông tin; và mức độ thiếu hụt các dịch vụ xã hội cơ bản đo lường qua 10 chỉ số (tiếp cận các dịch vụ y tế; bảo hiểm y tế; trình độ giáo dục của người lớn; tình trạng đi học của trẻ em; chất lượng nhà ở; diện tích nhà ở bình quân đầu người; nguồn nước sinh hoạt; LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 hố xí/nhà tiêu hợp vệ sinh; sử dụng dịch vụ viễn thông; tài sản phục vụ tiếp cận thông tin). * Theo đó chuẩn hộ nghèo là hộ đáp ứng một trong các tiêu chí sau: a) Khu vực nông thôn: - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống; - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.
b) Khu vực thành thị: - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống; - Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng và thiếu hụt từ 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên. Khái niệm về giảm nghèo Giảm nghèo là hoạt động làm cho bộ phận dân cư nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo, biểu hiện ở tỷ lệ phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống. Nói một cách khác giảm nghèo là quá trình chuyển bộ phận dân cư nghèo lên một mức sống cao hơn. Ở khía cạch khác giảm nghèo là việc chuyển từ tình trạng con người có điều kiện để lựa chọn sang tình trạng có đầy đủ điều kiện lựa chọn hơn nhằm cải thiện đời sống mọi mặt của mỗi người.
Xét trong góc nhìn của nghiên cứu, có thể hiểu giảm nghèo là một trong những biện pháp của Nhà nước (là hệ thống văn bản quy phạm pháp luật bao gồm các quyết định, quy định, các biện pháp được ban hành bởi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và được cụ thể hóa trong các mục tiêu, kế hoạch, chương trình, dự án…) nhằm tác động vào các đối tượng cụ thể như người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo với mục đích thoát khỏi nghèo, nâng cao điều kiện sống [28]. Khái niệm về giảm nghèo bền vững Giảm nghèo bền vững đã được một số nghiên cứu đề cập từ trước năm 2000. Nhưng đến năm 2008 cụm từ "giảm nghèo bền vững" được sử dụng chính thức trong văn bản hành chính ở Việt Nam tại Nghị quyết số 30a/2008/NQ-CP ngày 27/12/2008 của Chính phủ về Chương trình hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 61 huyện nghèo. Tiếp đó là Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2010 của Chính phủ về LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Định hướng giảm nghèo bền vững giai đoạn 2011-2020; Quyết định số 1489/QĐ- TTg ngày 8/10/2012 của TTCP phê duyệt chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015 và Nghị quyết số 15 -NQ/TW ngày 1/6/2012, Hội nghị BCH trung ương khóa XI về một số vấn đề về chính sách xã hội giai đoạn 2012-2020.
Tính đến thời điểm này vẫn chưa có một định nghĩa hay khái niệm chính thức về “giảm nghèo bền vững”.