chương 1, trong chương 2 luận án đã phân tích kỹ từng nội dung quản lý ĐTPT từ NSNN. Luận án đã rút ra 6 bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam nói chung và Hải Phòng nói riêng trên cơ sở phân tích kinh nghiệm quản lý ĐTPT từ NSNN của một số quốc gia và một số địa phương trong nước. Luận án đã chỉ ra 6 nhân tố ảnh hưởng tới quản lý ĐTPT từ NSNN, tuy nhiên các nhân tố này chưa được sử dụng để đánh giá kết quả, hạn chế và nguyên nhân trong quản lý ĐTPT từ NSNN trên địa bàn TP Hải Phòng. Luận án cũng chưa đề cập đến hiệu quả quản lý ĐTPT từ NSNN cả về mặt lý luận và phân tích thực trạng.
Luận án chưa đưa ra được các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả quản lý ĐTPT từ NSNN. Do xuất phát từ đối tượng, phạm vi nghiên cứu và cách tiếp cận nên luận án đã không nghiên cứu cụ thể công tác quản lý chi đầu tư XDCB, không tiếp cận QLNN theo chu trình quản lý NS và luận án chỉ đánh giá thực trạng quản lý ĐTPT từ NSNN trên địa bàn thành phố Hải Phòng từ năm 2000 đến năm 2010. [17] - Luận văn thạc sĩ kinh tế của tác giả Dương Cao Sơn “Hoàn thiện công tác quản lý chi vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn NSNN thuộc Kho bạc Nhà nước”, 2008. Luận văn đã đưa ra được những vấn đề lý luận cơ bản về nguồn vốn đầu tư XDCB và quản lý chi vốn đầu tư XDCB của KBNN; phân tích, đánh giá những mặt được và chưa được của quản lý vốn đầu tư XDCB đồng thời đề xuất được các giải pháp hoàn hiện công tác quản lý vốn đầu tư XDCB.
Luận văn làm nổi bật các hạn chế trong công tác quản lý chi vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn NSNN qua KBNN, nhưng về kiểm soát chi đầu tư XDCB vẫn còn mờ nhạt. [40] 6 - Luận án tiến sĩ kinh tế của tác giả Võ Văn Cần “Nghiên cứu cơ chế kiểm tra, giám sát vốn đầu tư XDCB thuộc nguồn vốn NSNN ở Việt Nam”, 2014. Trường Đại học Ngân hàng Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả đã phân tích, đánh giá hiệu quả hệ thống kiểm tra, giám sát đầu tư XDCB từ nguồn NSNN ở Việt Nam, chỉ tiêu đánh giá hiệu quả vốn đầu tư XDCB từ NSNN và những nhân tố tác động đến hiệu quả hoạt động hệ thống kiểm tra, giám sát vốn đầu tư XDCB từ nguồn NSNN ở Việt Nam.
[9] - Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Toàn Thắng “ Quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN của thành phố Hà Nội”, 2012. Luận văn đã đánh giá cơ bản các vấn đế lý luận về quản lý vốn đầu tư XDCB từ NSNN của thành phố Hà Nội, phân tích thực trạng, đánh giá được kết quả, chỉ ra hạn chế, tìm ra nguyên nhân và đề xuất hai nhóm giải pháp nhằm quản lý vốn đầu tư XDCB của thành phố Hà Nội. Tuy nhiên, các nhóm giải pháp của tác giả đưa ra còn chưa thật hoàn thiện. [38] - Ngoài ra, trên Tạp chí quản lý Ngân quỹ Quốc gia có rất nhiều bài viết đề cập đến kiểm soát chi đầu tư XDCB, ví dụ như: “Tạm ứng và thu hồi tạm ứng vốn đầu tư - những vấn đề rút ra từ thực tiễn”, (Lê Hồ Thanh Tâm, 2013) Tạp chí quản lý Ngân quỹ Quốc gia, số 132, trang 22-23; “Triển khai thực hiện cam kết chi qua KBNN trong điều kiện vận hành TABMIS”, (Phạm Bình, 2013) Tạp chí quản lý Ngân quỹ Quốc gia, số 138, trang 17-19; “Quản lý và kiểm soát cam kết chi NSNN quan KBNN: 7 nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện” (Vĩnh Sang, 2014) Tạp chí quản lý Ngân quỹ Quốc gia, số 139+140, trang 50-54; “Một số giải pháp tăng cường quản lý tạm ứng và thu hồi tạm ứng trong công tác kiểm soát thanh toán các dự án đầu tư sử dụng vốn NSNN qua KBNN”, tác giả Trương Thị Tuấn Linh, 2014.
Tạp chí quản lý Ngân quỹ Quốc gia, số 144, trang 18-19; “Một số giải pháp nhằm đẩy nhanh tiến độ giải ngân vốn đầu tư năm 2014”, (Nguyễn Thị Hồng Thúy, 2014) Tạp chí quản lý Ngân quỹ Quốc gia, số 146, trang 29-31; “Nâng cao hiệu quả kiểm soát và giải ngân vốn đầu tư”, (Lâm Hồng Cường, 2014) Tạp chí quản lý Ngân quỹ Quốc gia, số 150, trang 16-18. Tóm lại, các công trình nghiên cứu này đã tiếp cận khá nhiều nội dung của công tác quản lý VĐT XDCB được chi từ NSNN, các nội dung được nghiên cứu tương đối 7 phong phú và được đề cập trên một số địa bàn cụ thể. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu trên chủ yếu nghiên cứu ở địa bàn các huyện, tỉnh khác nhau… chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu về quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB tại tỉnh Bắc Ninh. Do đó, trong luận văn này, tác giả nghiên cứu, đánh giá thực trạng công tác quản lý chi NSNN trong đầu tư XDCB tại tỉnh Bắc Ninh và đưa ra các giải pháp phù hợp với tình hình thực tế về hoạt động quản lý chi NSNN trong đầu tư XDCB của tỉnh Bắc Ninh.
Điểm mới của luận văn so với các công trình nghiên cứu trước đây đó là công trình nghiên cứu công tác quản lý chi NSNN cho đầu tư XDCB mang tính đặc thù trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh. Đồng thời đề ra được phương hướng, mục tiêu, hệ thống một số các giải pháp vừa có tính cấp bánh trước mắt, vừa có tính chiến lược lâu dài cho chi đầu tư XDCB từ nguồn chi NSNN tại tỉnh Bắc Ninh với mục tiêu nâng cao hiệu lực, hiệu quả chi đầu tư XDCB từ nguồn NSNN phục vụ tốt hơn nhu cầu và lợi ích của nhân dân, thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương. Cơ sở lý luận về quản lý chi NSNN trong đầu tƣ XDCB 1.1 Các khái niệm Lịch sử ra đời, tồn tại và phát triển của NSNN luôn gắn liền với một tiền đề rất quan trọng là Nhà nước. Trong mối quan hệ giữa NSNN và Nhà nước, thì Nhà nước luôn giữ vai trò chủ thể; còn NSNN lại trở thành công cụ tài chính quan trọng của Nhà nước.
Vì vậy, NSNN phải đảm bảo cho các nhu cầu chi của Nhà nước theo quy định. Phạm vi chi NSNN rất rộng, bao trùm mọi lĩnh vực đời sống, liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến mọi đối tượng. Chi ngân sách nhà nước *) Khái niệm: Chi NSNN bao gồm các khoản chi phát triển KT – XH, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo đảm hoạt động của bộ máy nhà nước; chi trả nợ của nhà nước; chi viện trợ và các khoản chi khác theo quy định của pháp luật. Khái niệm trên đã chỉ ra những nội dung chi cơ bản, then chốt của NSNN.
Về bản chất, chi NSNN chính là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã được 8 tập trung vào NSNN theo các mục đích sử dụng thực tế đã được luật định. Do đó, chi NSNN là công việc định vị khoản chi cụ thể cho từng mục tiêu, từng hoạt động, từng công việc thuộc chức năng của Nhà nước. Như vậy, có thể định nghĩa chi NSNN là việc phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo dự toán ngân sách đã được cơ quan có thẩm quyền quyết định nhằm bảo đảm điều kiện vật chất để duy trì hoạt động và thực hiện các chức năng đáp ứng nhu cầu đời sống KT – XH dựa trên các nguyên tắc nhất định. [13] Phạm vi chi NSNN rất rộng, bao trùm mọi lĩnh vực đời sống, liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến mọi đối tượng.
+ Quyền quyết định chi NSNN do Nhà nước (Quốc hội, Chính phủ hay cơ quan công quyền được ủy quyền) quyết định. + Chi NSNN không mang tính lợi nhuận, chú trọng đến lợi ích cộng đồng, lợi ích KT – XH. + Quản lý chi NSNN phải tôn trọng nguyên tắc công khai - minh bạch và có sự tham gia của công chúng. *) Đặc điểm của chi NSNN: + Chi NSNN luôn gắn chặt với những nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội.
+ Chi NSNN được thể hiện ở tầm vĩ mô và mang tính toàn diện cả về hiệu quả kinh tế trực tiếp, hiệu quả về mặt xã hội, chính trị và ngoại giao. + Chi NSNN là khoản cấp phát không hoàn trả trực tiếp và mang tính bao cấp. *) Các khoản mục chi NSNN cấp tỉnh: Chi NSNN cấp tỉnh là các khoản chi mà chính quyền cấp tỉnh có quyền phân bổ cho các đơn vị trực thuộc sử dụng nhằm bảo đảm thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của chính quyền cấp tỉnh. Các khoản chi này được bao quát trong mục lục NSNN và được đưa vào dự toán ngân sách, được HĐND ra quyết định phê chuẩn và được thực hiện trong một thời gian xác định.
Nếu các khoản thu trên địa bàn tỉnh không đủ để cân đối cho các khoản chi theo chế độ chung thống nhất trong cả nước, NSTW sẽ cấp bổ sung để cân đối NSĐP. 9 Trong quản lý tài chính, chi NSNN cấp tỉnh được chia làm hai nội dung chi lớn: chi thường xuyên và chi đầu tư phát triển: - Chi thường xuyên: là những khoản chi có tính chất thường xuyên để tài trợ cho hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm duy trì “đời sống quốc gia”. Về nguyên tắc, khoản chi này phải được tài trợ bằng các khoản thu không mang tính chất hoàn trả (thu trong cân đối) của NSNN. Chi thường xuyên gồm có: + Chi về chủ quyền quốc gia: tức là chi phí mà các cơ quan nhà nước cần phải thực hiện để bảo vệ chủ quyền quốc gia, nhất là trên lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao, thông tin đại chúng… + Chi phí liên quan đến sự điều hành và duy trì hoạt động của các cơ quan nhà nước để thực hiện nhiệm vụ được giao phó.
+ Chi phí vào các hoạt động kinh tế, văn hoá, xã hội để cải thiện đời sống nhân dân. - Chi đầu tư phát triển: Là tất cả các khoản chi làm tăng thêm tài sản quốc gia, bao gồm: + Chi xây dựng các công trình thuộc kết cấu hạ tầng KT – XH không có khả năng hoàn vốn. + Chi xây dựng mới và tu bổ công sở, đường xá, kiến thiết đô thị. + Chi cho việc thành lập doanh nghiệp nhà nước, góp vốn vào các công ty, góp vốn vào các đơn vị, tổ chức sản xuất kinh doanh.