MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài Toàn nhân loại đang sống trong thế kỷ XXI - thế kỷ của toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế, đặc biệt với sự phát của cuộc cách mạng khoa học công nghệ 4.0 đã làm thay đổi mọi mặt của đời sống xã hội, yêu cầu của con người với cuộc sống ngày càng chất lượng (CL), văn minh, hiện đại. Bối cảnh phát triển của thế giới đã tạo ra cho giáo dục (GD) có thêm vai trò và sứ mạng mới, nó vừa là động lực để vận hành nền kinh tế tri thức, vừa là hạ tầng xã hội để hình thành xã hội tri thức, một nền GD đặt trên cơ sở thích ứng với điều kiện và nhu cầu phát triển của xã hội mới. Nó tạo ra một bức tranh đa dạng các hệ thống GD trên thế giới, nhưng có sự thống nhất về xu thế vận động và phát triển, đó là: phổ cập hóa GD, nâng cao chất lượng giáo dục (CLGD), dân chủ hóa GD, thương mại hóa GD, quốc tế hóa GD.; tạo ra sức ép cho hệ thống GD các nước phải có sự thay đổi cung cấp cho xã hội những con người có khả năng: làm việc theo nhóm, là công dân tốt, làm lãnh đạo (LĐ), năng động, sáng tạo.
Trước tình hình trên đã đặt ra GD&ĐT Việt Nam phải có những bước phát triển mới, tạo ra nguồn nhân lực CL cao để đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội và hội nhập, sánh vai với các nước trong khu vực và trên thế giới. Nghị quyết số 29 – NQ/TW về “đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đã được Hội nghị Trung ương 8 (khóa XI) thông qua, Đảng và nhà nước đã xác định rõ việc đổi mới phải là những vấn đề lớn, cốt lõi và mang tính cấp thiết, từ mục tiêu đến nội dung, phương pháp, phương tiện dạy học song song với nó là cơ chế, 1 chính sách và các điều kiện đảm bảo thực hiện đổi mới. Phải thấm nhuần từ quan điểm chỉ đạo của Đảng, từ các cấp các ngành, các cơ quan quản lý (QL) nhà nước, các tầng lớp nhân dân và các đơn vị GD từ đại học đến các trường mầm non, tiểu học. “Đổi mới phải bảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ, khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp” [38,tr.
Như vậy, yếu tố QL cũng được xem là khâu đột phá trong đổi mới căn bản, toàn diện GD&ĐT, quản lý giáo dục (QLGD) phải đi trước một bước để xây dựng được một nền GD CL, tiên tiến, sánh ngang với nền GD của các nước tiên tiến trên thế giới. QLGD có vai trò quyết định trong việc nâng cao chất lượng giáo dục (CLGD) nói chung và CL của các nhà trường nói riêng. Trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu sắc và toàn diện, GD cần cung cấp nguồn nhân lực có sức cạnh tranh cao, đòi hỏi năng lực làm việc và thích ứng xã hội một cách toàn diện, có được nguồn nhân lực trên thì việc đầu tiên và nền tảng đó là GD tiểu học(TH) phải đi trước một bước, bởi đây là cấp học đầu tiên được GD bằng phương pháp nhà trường và sản phẩm GD TH là tạo ra những con người có đủ năng lực và phẩm chất về đức, trí, lao, thể, mỹ. Để làm được điều này thì phương thức QL cũng phải thay đổi theo để phù hợp với sự thay đổi đó.
Cụ thể: trách nhiệm QL không còn tập trung chủ yếu vào tầm quan trọng vai trò người LĐ và của cơ quan QL, QL không bằng mệnh lệnh hành chính, không còn nặng tính quan liêu bao cấp, ôm đồm, sự vụ, hạn chế quyền chủ động, sáng tạo và ý thức trách nhiệm của các cá nhân, của các nhà trường. Quản lý chất lượng (QLCL) là một phương thức QL mới, đã thành công trong các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và bắt đầu được vận dụng trong QLGD. Bản chất của QLCL như một phương thức QL, đó là QL bằng các quy trình. Quy trình này được xây dựng từ các công việc cụ thể của 2 một hệ thống GD hoặc một cơ sở GD dựa trên các tiêu chuẩn, tiêu chí, chỉ báo.
Việc xây dựng một hệ thống QLCL GD bằng chuẩn sẽ cung cấp cho các nhà QL một cách nhìn tổng thể về QLCL, một phương thức QL không nhằm vào CL của một sản phẩm đơn lẻ, mà nhằm tới việc xây dựng một hệ thống QL trên cơ sở các quy trình thực hiện tất cả các công việc trong nhà trường để sản phẩm của quá trình GD đều đạt CL. Vấn đề CLGD được Đảng, nhà nước và toàn xã hội rất quan tâm, vì vậy việc tiếp cận QLCL là hướng lựa chọn phù hợp cho QL các nhà trường TH. Hải Phòng là một trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa đứng ở tốp đầu cả nước, GD Hải Phòng nói chung và GD TH Hải Phòng nói riêng đang có nhiều khởi sắc và có những bước tiến vững chắc trong sự nghiệp đổi mới của thành phố cùng cả nước. Tuy nhiên, trong một vài năm gần đây, trong thời kì hội nhập quốc tế sâu rộng với sự phát triển của đất nước và thành phố, CLGD nói chung và CL giáo dục TH nói riêng đang đặt ra cho các cơ sở giáo dục, các nhà trường, các nhà QL, các cơ quan QLGD một thách thức mới như: đổi mới QL các nhà trường như thế nào để có CL hơn? Làm thế nào để QL trường TH trong một đô thị phát triển hiện đại và hội nhập đáp ứng nhu cầu học tập của HS và yêu cầu của xã hội và tiếp cận được với GD các nước trong khu vực và quốc tế? Đó là những thách thức mà chúng ta phải giải quyết.
Hiện nay đã có nhiều đề tài nghiên cứu về QL nhà trường, QL quá trình dạy học, QL đội ngũ giáo viên, QLCL nhà trường…ở các cấp học, bậc học từ mầm non cho đến đại học; các tác giả đề xuất những phương thức QL, những giải pháp theo quan điểm, cách tiếp cận khác nhau, trên những địa bàn cụ thể khác nhau. Tuy nhiên, cho đến nay, trong cả nước nói chung và ở thành phố Hải Phòng nói riêng chưa có một công trình nào nghiên cứu về QLCL trường TH. Vì vậy, việc nghiên cứu QLCL trường TH sẽ góp phần hướng tới một phương thức QL mới tiên tiến, mang lại CLGD cho các nhà trường TH hiện nay. 3 Xuất phát từ thực tế và những yêu cầu cụ thể của vấn đề nói trên, tác giả xin lựa chọn vấn đề nghiên cứu “Quản lý chất lượng trường tiểu học trên địa bàn thành phố Hải Phòng”.
Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở nghiên cứu cơ sở lý luận CL, QLCL, QLCL trường TH và thực trạng QLCL trường TH trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Luận án đề xuất hệ thống QLCL trường TH và các giải pháp triển khai hệ thống QLCL trường TH trên địa bàn thành phố Hải Phòng góp phần nâng cao CLGD TH tại thành phố Hải Phòng nói riêng và cả nước nói chung đáp ứng yêu cầu đổi mới GD hiện nay. Khách thể và đối tƣợng nghiên cứu 3. Khách thể nghiên cứu Chất lượng trường tiểu học.
Đối tƣợng nghiên cứu Quản lý chất lượng trường TH trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Câu hỏi nghiên cứu 4. Trước yêu cầu đổi mới GD trong bối cảnh hội nhập, từ việc đánh giá các kết quả nghiên cứu, việc QLCL trường TH đặt ra cho các nhà QL cụ thể ở đây là HT các trường TH những vấn đề gì, có thể xây dựng và vận hành hệ thống QLCL trường TH dựa theo hệ thống cơ sở lý luận nào? 4. Có thể nghiên cứu áp dụng phương thức QLCL, bằng việc sử dụng Bộ tiêu chuẩn về KĐCLGD và công nhận ĐCQG đối với trường TH để xây dựng và vận hành hệ thống QLCL bên trong nhà trường TH để QLCL trường TH trên địa bàn thành phố Hải Phòng được không? 4.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, thực tiễn và các yêu cầu đổi mới GD, các cơ quan QLGD, các nhà trường, các nhà QL, các HT trường TH phải làm gì để triển khai thành công hệ thống QLCL vào QL trường TH trên địa bàn thành phố Hải Phòng? 4 5. Giả thuyết khoa học Hiện nay các trường TH trên địa bàn thành phố Hải Phòng chủ yếu QL theo phương thức QL truyền thống. Trong bối cảnh đổi mới GD hiện nay, đứng trước yêu cầu phát triển của thành phố và đất nước về CLGD đang đặt ra cho các cơ quan QLGD, các nhà QL đặc biệt là HT của các trường TH một thách thức mới nhằm mục đích nâng cao chất lượng toàn diện cho HS. Để đạt được điều đó cần có sự thay đổi phương thức QL hợp lý, hiệu quả hơn.
Nếu nghiên cứu phương thức QL các trường TH bằng phương thức QLCL dựa trên Bộ tiêu chuẩn KĐCLGD và công nhận ĐCQG đối với trường TH bằng cách xây dựng và vận hành hệ thống QLCL bên trong, tác động vào tất cả các lĩnh vực trong nhà trường đảm bảo không có lỗi xảy ra ở bất kì khâu nào của quá trình GD, thì sẽ góp phần nâng cao CLGD toàn diện cho HS trong nhà trường TH, đáp ứng yêu cầu đổi mới GD và hội nhập. Nhiệm vụ nghiên cứu 6. Nghiên cứu cơ sở lý luận về CL, QLCL, QLCL trường TH. Phân tích, đánh giá thực trạng QLCL trường TH trên địa bàn thành phố Hải Phòng thông qua Bộ tiêu chuẩn về KĐCLGD và công nhận ĐCQG đối với trường TH đã được Bộ GD&ĐT ban hành (Thông tư 17/2018/TT – BGDĐT, ngày 22 tháng 8 năm 2018 của Bộ GD&ĐT ban hành về kiểm định chất lượng giáo dục và công nhận đạt chuẩn quốc gia đối với trường tiểu học).
Đề xuất xây dựng và vận hành hệ thống QLCL trường TH và các giải pháp cần thiết, khả thi về QLCL trường TH trên địa bàn thành phố Hải Phòng. Tổ chức khảo nghiệm và thử nghiệm một nội dung tiêu biểu của một biện pháp QLCL trường TH trong một giải pháp cụ thể đã được đề xuất ở trên. Giới hạn phạm vi nghiên cứu Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận án, tác giả lựa chọn giới hạn phạm vi nghiên cứu cụ thể như sau: 5 7.