phần mở đầu, kết luận, kiến nghị, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các công trình nghiên cứu đã công bố của tác giả liên quan đến đề tài luận án và các phụ lục, luận án được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý thiết bị đào tạo của các trường đại học kỹ thuật trong Quân đội theo tiếp cận ĐBCL. Chƣơng 2: Thực trạng về quản lý thiết bị đào tạo của các trường đại học kỹ thuật trong Quân đội theo tiếp cận ĐBCL. Chƣơng 3: Giải pháp quản lý thiết bị đào tạo của các trường đại học kỹ thuật trong Quân đội theo tiếp cận ĐBCL. 6 z CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ THIẾT BỊ ĐÀO TẠO CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC KỸ THUẬT TRONG QUÂN ĐỘI THEO TIẾP CẬN ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG 1 1 Tổng qu n nghiên cứu vấn ề 1.
Những nghiên cứu về quản lý thiết bị đào tạo Trên thế giới, vai trò của CSVC, phương tiện dạy học được các nhà giáo dục rất coi trọng, đặc biệt là sử dụng các phương tiện trực quan trong dạy học. Khi đề cập đến vấn đề này, Komenxky (1592-1670) đã dựa trên triết lý giáo dục phải thích ứng với tự nhiên, đã khẳng định: nguyên tắc vàng ngọc trong dạy học là nguyên tắc trực quan [93], để thực hiện nguyên tắc trên đòi hỏi các nhà trường cần đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng và sử dụng CSVC, kỹ thuật và các phương tiện dạy học. Có thể coi đây là những tư tưởng đầu tiên đề cập đến vấn đề xây dựng, sử dụng CSVC, kỹ thuật và các phương tiện trong quá trình dạy học. GDĐH trên thế giới ra đời vào thời kỳ Văn hóa Phục hưng chủ yếu ở Châu Âu và trải qua hàng trăm năm phát triển chức năng của trường đại học hoàn thiện dần.
Trải qua một quá trình phát triển, do yêu cầu của sự phát triển của sản xuất, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học kỹ thuật và công nghệ, từ cuối thập niên 80 của thế kỷ XX, GDĐH ở nhiều nước Châu Âu và Bắc Mỹ có sự mở rộng. Điều đó đã dẫn đến sự gia tăng rất đông số lượng sinh viên. Trong điều kiện nguồn lực không tăng tỷ lệ thuận với qui mô đào tạo, các trường đại học phải quan tâm nhiều đến hiệu suất sử dụng các nguồn lực. Các cách làm khác nhau nhằm khai thác tối đa công suất CSVC, TBĐT của các trường đại học trên thế giới đã được nghiên cứu có hệ thống hơn.
Trong các công trình nghiên cứu của Bautista O [107], với việc chuyển đổi hệ thống một học kỳ sang ba học kỳ. Hirsh E [118] với chiến lược nâng cao tỷ lệ sinh viên tốt nghiệp và giảm bỏ học; Lockwood G và Davies G [129] với cơ chế khuyến khích điều tiết, chuyển đổi CSVC giữa các khu vực trong nhà trường. Shapovalenko (1967): “Việc sử dụng và quản lý thiết bị đào tạo là một trong những nhiệm vụ quan 7 z trọng của cơ sở giáo dục… Không có bất kỳ một loại thiết bị giáo dục nào có thể đảm bảo thành công nếu chỉ được sử dụng riêng lẻ. Cần phải kết hợp một cách đúng đắn và quản lý hiệu quả tổng hợp các thiết bị dạy học, đáp ứng các yêu cầu mới có thể đảm bảo hiệu quả một cách tối đa” [147].
Đặc biệt, vào năm 1995, UNESCO đã có một cuộc khảo sát về hiệu quả khai thác diện tích sử dụng (diện tích hữu dụng và các thiết bị kèm theo) của các trường đại học nhiều khu vực, châu lục trên thế giới. Trong một công trình nghiên cứu liên quan, tác giả Sanyal B.C [140] đã trình bày khá cụ thể về tình hình quản lý khai thác giảng đường, phòng học, PTN, phòng thực nghiệm, thực hành. của một số trường đại học ở Hoa Kỳ, Canada, Bỉ, Nga, Phần Lan, Hà Lan, Anh và Châu Mỹ La tinh, đồng thời phân tích ưu, nhược điểm của một số trường hợp. Trong những năm gần đây có một số nghiên cứu có đề cập đến CSVC - kỹ thuật trường học, như: Tổ chức lao động quốc tế ADB/ILO (Evaluation Rating criteria for the VTE Institution.
ADB/ILO - Bangkok 1997) đưa ra 9 tiêu chuẩn và điểm đánh giá cơ sở GD&ĐT để kiểm định các nước thuộc tiểu vùng sông Mêkông thì các điều kiện cơ sở hạ tầng của nhà trường: khuôn viên, CSVC - kỹ thuật và thư viện chiếm 125/500 tổng điểm chung [36]. Báo cáo Quốc gia về ĐBCL trong GDĐH, Bangkok -Thailand, 1998, đưa ra tỉ lệ đánh giá các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục của Malaysia với 6 chỉ số, trong đó các điều kiện đảm bảo về CSVC - kỹ thuật cho công tác đào tạo chiếm 20% tổng điểm đánh giá chung [36]. Theo Kowalski (1983), thiết bị giáo dục - đào tạo đang trở nên l i thời và đứng trước áp lực phải thay đổi để thích nghi với những thay đổi về công nghệ và xã hội. Chúng giống như các nguồn tài nguyên vật chất đang bị khai thác cạn kiệt và cần được thay thế hoặc nâng cấp.
Các nhà quản lý phải có trách nhiệm trong việc giải quyết vấn đề này để nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao từ phía người học. Thực tế, đầu tư, thiết kế và xây dựng CSVC ban đầu tốn quá nhiều thời gian và công sức khiến những lợi ích mà nó mang lại không phát huy đúng thời điểm, thậm chí có trường hợp còn để lại gánh nặng về nhiều mặt cho thế hệ 8 z sau. Do vậy, một kế hoạch đầu tư vào CSVC phải đảm bảo được tính toán kỹ lưỡng, phát huy được hiệu quả một cách bền vững. Theo đó, cần phải có những chỉ số đánh giá hiệu quả sử dụng thiết bị.
Đây là khâu then chốt, làm căn cứ để các nhà quản lý có thể đưa ra các giải pháp phù hợp để có thể cân bằng được giữa lợi ích và nhu cầu [143]. Trong Hội thảo quốc tế tại Áo năm 1998 về chủ đề “Nâng cao chất lượng quản lý cơ sở hạ tầng giáo dục”, đã kết luận cơ sở vật chất tốt không chỉ tác động tích cực đến kết quả học tập mà còn ảnh hưởng lớn đến tâm lý của giáo viên và sinh viên. Mọi người ngày càng nhận thức r về vai trò của quan trọng của cơ sở vật chất trong việc hình thành thái độ của con người đối với môi trường và sự đóng góp của họ đối với xã hội. Các học giả đều nhất trí rằng chất lượng CSVC có ảnh hưởng không chỉ tới kết quả học tập mà còn tới sức khỏe, ý thức của người dạy và người học, ví dụ như ý thức về bảo vệ môi trường sống, tiết kiệm năng lượng…); tại Hội thảo Ông Glen.Earthman thuộc Viện Nghiên cứu Bách khoa Virginia, Mỹ cho biết các kết quả nghiên cứu đã chứng minh mối quan hệ giữa thành tích, hành vi của sinh viên với môi trường học tập.
Một số yếu tố quan trọng tác động tới việc học tập của sinh viên là nhiệt độ, ánh sáng, không gian và đồ đạc trong phòng. Theo đó, các trường có CSVC chất lượng cao sẽ có chất lượng sản phẩm giáo dục cao hơn các trường khác với chất lượng CSVC thấp. Do đó, việc quan tâm không đúng mức tới CSVC sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực tới chất lượng đào tạo của một nhà trường. Nếu các công trình nghiên cứu và kinh nghiệm đã chỉ r kết quả học tập có liên quan chặt chẽ đến cơ sở vật chất thì r ràng trách nhiệm của những nhà quản lý giáo dục chính là tăng cường chất lượng cơ sở vật chất.
Do vậy, bên cạnh việc phát triển chiến lược quản lý cơ sở vật chất giáo dục, cần tích cực nghiên cứu nâng cao hiểu biết về tác động của cơ sở vật chất đối với thái độ và kết quả học tập của sinh viên. Hàng năm, các nước OECD dành hơn 5% tổng thu nhập quốc nội cho giáo dục và theo số liệu báo cáo gần đây chi phí dành cho CSVC chiếm 1/5. Năm 2006, Ủy ban Kĩ thuật Châu Âu đã thành lập các tiêu chuẩn quản lý CSVC và được áp 9 z dụng tại tất cả các nước trong Liên minh Châu Âu. Quá trình chuẩn bị xây dựng các tiêu chuẩn bắt đầu từ năm 2002 và mất khá nhiều thời gian để đưa vào sử dụng bởi sự khác nhau trong hệ thống quản lý ở các nước.
Nó sẽ giúp các nước Châu Âu tăng cường khả năng cạnh tranh trong tiến trình toàn cầu hóa, nâng cao hiệu quả quản lý, chất lượng sản phẩm trong các lĩnh vực, hiệu quả phối hợp giữa các bên, minh bạch hóa các hợp đồng mua bán. Thực tế, rất nhiều nước trong khu vực đang tỏ ra hết sức quan tâm tới những vấn đề quản lý CSVC. Đã có nhiều công trình nghiên cứu được công bố về chủ đề quản lý CSVC trong các CSGD đào tạo, trong đó các nhà quản lý gặp phải nhiều khó khăn trong việc đáp ứng nhu cầu người học, bảo quản và sử dụng thiết bị một cách hiệu quả và lâu dài [131,tr. Trong bài tham luận: “Quản lý thiết bị đào tạo: phát huy các nguồn lực” tại Triển lãm giáo dục quốc tế Moscow (2001), bà Yulia Olegovna Krasilnikova của Đại học nghiên cứu công nghệ quốc gia LB Nga có nhận định “Quản lý thiết bị là một phần trong quản lý quá trình giáo dục đào tạo, có vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng đào tạo của cơ sở giáo dục.
Các quá trình quản lý đảm bảo hoạt động của TBĐT cần phải được tự động hóa một cách tối đa. Công tác quản lý thiết bị cần phải được tiến hành theo mô hình quản trị: cần phải xác định r mục đích của việc quản lý, xây dựng các chỉ số đánh giá hiệu quả, quy trách nhiệm trong việc hoàn thành hay không hoàn thành mục tiêu đề ra” [148, tr. Zafievsky (2010) đăng trên tạp chí “Những thành tựu khoa học tự nhiên hiện đại” đã nêu: “Quản lý thiết bị đào tạo là một trong những nhiệm vụ quan trọng của mọi cơ sở hoạt động trong lĩnh vực giáo dục… Để nâng cao hiệu quả quản lý, cần phải tự động hóa quá trình và xây dựng các tiêu chuẩn đánh giá” [145, tr. Ở Việt Nam, nghiên cứu về TBĐT và quản lý TBĐT cũng được một số nhà nghiên cứu quan tâm như Trần Doãn Quới, Nguyễn Văn Tư… Trình bày kết quả cuộc khảo sát quy mô lớn năm 2008 về thực trạng đổi mới phương pháp dạy học nhằm nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường đại học nước ta, nhóm 10 z nghiên cứu (Đào Thái Lai, Vũ Trọng Rỹ, Lê Đông Phương, Ngô Doãn Đãi) [66] đã khẳng định “CSVC hạn chế” là yếu tố hàng đầu cản trở việc đổi mới phương pháp dạy học hiện nay.