CHƯƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC LIÊN KẾT QUỐC TẾ THEO TIẾP CẬN QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG TỔNG THỂ 1. Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Nghiên cứu ở nước ngoài 1.
Nghiên cứu về quản lý chất lượng trong giáo dục – đào tạo Trong GD - ĐT, việc nâng cao CLĐT cho phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế tri thức, nhất là trong thời kỳ hội nhập ngày càng trở nên quan trọng. Hiện nay, vấn đề này được các nhà giáo dục, nhà nghiên cứu và toàn xã hội đặc biệt quan tâm. Có nhiều định nghĩa về chất lượng, nhưng tất cả thống nhất định nghĩa “Chất lượng là sự phù hợp với mục tiêu”. Với tầm quan trọng của chất lượng trong GD - ĐT, các nhà quản lý giáo dục quan tâm đến việc phải làm gì để CLĐT được tốt hơn.
Theo Silva Roncelli – Vaupot (2000), có ba cách tiếp cận được sử dụng làm công cụ trong quản lý chất lượng giáo dục [95]. Đó là kiểm soát chất lượng giáo dục, đảm bảo chất lượng giáo dục và TQM. Kiểm soát chất lượng giáo dục là cách lâu đời và thông dụng nhất (Sallis, 1993), gồm việc kiểm tra sản phẩm giáo dục ở đầu ra (sinh viên tốt nghiệp) để thấy được sự tồn tại và yếu kém của quá trình đào tạo. Nó là hoạt động xảy ra ở giai đoạn cuối của quy trình đào tạo được thẩm định qua các kỳ thi cuối khóa hoặc kỳ thi cuối năm.
Có ý kiến cho rằng, các kỳ thi cuối khóa sẽ xác định chất lượng học tập của sinh viên. Thực tế cho thấy cần phải quan tâm đến quá trình đào tạo, đến chất lượng của chương trình, điều này làm cho “sản phẩm” giáo dục có chất lượng. Nhưng nhược điểm của kiểm soát chất lượng là khó đảm bảo sự nghiêm túc, công bằng và khách quan trong thi cử. Kiểm soát chất lượng còn được xem như công cụ hỗ trợ nâng cao chất lượng giáo dục, nhưng không hẳn là hoạt động đảm bảo chất lượng giáo dục tốt.
Đảm bảo chất lượng giáo dục được giám sát ngay từ đầu và trong quá trình đào tạo. Điều này, nhằm đảm bảo CLĐT sẽ đạt được theo kế hoạch và tránh sai sót trong quá trình đào tạo. CLĐT được đảm bảo dựa trên các chuẩn mực đã được quy 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com định về đầu vào, về quá trình đào tạo[97]. Hiện tại, các trường đã công bố Chuẩn đầu ra, chính là thước đo chất lượng, là chuẩn mực quy định phải thực hiện.
Trong sự phát triển của nhà trường “Chuẩn đầu ra” sẽ có chuẩn mực cao hơn theo từng năm học và phấn đấu đạt được. Có như vậy, nhà trường nâng cao chất lượng đào tạo và sẽ tránh được sư căng thẳng của các kỳ thi, việc học gạo và tránh chạy theo thành tích. Tuy nhiên, mô hình đảm bảo chất lượng còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khách quan khác như: chất lượng đầu vào, chương trình đào tạo, điều kiện trang thiết bị cơ sở vật chất,… Mô hình đảm bảo chất lượng nên được sử dụng ở các cấp vĩ mô như cấp Bộ, cấp Sở và mọi hoạt động kiểm soát chất lượng tầm vi mô sẽ góp phần tạo thành công cho đảm bảo chất lượng ở tầm vĩ mô. Những năm gần đây, TQM được áp dụng trong giáo dục nhằm tạo ra một văn hóa chất lượng và trách nhiệm của mỗi thành viên trong nhà trường đều cố gắng hết sức mình, đáp ứng tối đa yêu cầu học tập của sinh viên và nhu cầu cấp bách của xã hội.
Nó chỉ có thể đạt được khi mọi người có ý thức nâng cao chất lượng thông qua nhận thức khái niệm và công cụ đo lường, đánh giá chất lượng. Một số nhà nghiên cứu và quản lý giáo dục trên thế giới quan tâm và có những nhận định về hệ thống quản lý chất lượng giáo dục như sau: - Các tác giả DeCosmo et Al (1991), Sherr và Lozier (1991), Bonser (1992), Edwell (1993) cho rằng, các đơn vị giáo dục có thể chuyển hướng theo TQM giống như các đơn vị kinh doanh. Sự thích nghi của TQM trong giáo dục là do sự thúc ép về nhu cầu cấp bách (DeCosmo et Al, 1991). - John West - Burnham (1997) đã nghiên cứu tổng hợp các vấn đề về quản lý chất lượng trong GD - ĐT và trình bày một cách hệ thống các quan niệm về chất lượng, khách hàng, văn hóa, lãnh đạo, làm việc theo nhóm, quản lý quá trình Edward Sallis (1994) đã xem xét vấn đề TQM trong bối cảnh giáo dục đại học ở Anh [92].
Vận dụng mô hình quản lý chất lượng trong sản xuất, kinh doanh vào lĩnh vực GD - ĐT, các nhà nghiên cứu và quản lý thuộc trường đại học Mỹ đã xác lập mô hình “Các chỉ số thực hiện của các đại học Mỹ”, trong đó đưa ra 21 chỉ số làm cơ sở đánh giá đầu vào, quá trình và đầu ra của hệ thống quản lý chất lượng toàn diện. 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Quản lý chất lượng trong giáo dục được nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới quan tâm, đặc biệt là công trình “Managing Quality in School” của Jonk West – Burnham (1997) đã nghiên cứu tổng hợp các vấn đề về quản lý chất lượng trong giáo dục. Tác phẩm đã trình bày một cách hệ thống các quan niệm về chất lượng, khách hàng, văn hoá, lãnh đạo, làm việc theo nhóm, quản lý quá trình [86]. - Nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã khai thác mô hình quản lý chất lượng và vận dụng mô hình quản lý đó vào thực tiễn.
Một số tác phẩm được dịch hoặc xuất bản tại Việt Nam như Austin (1985) về lý thuyết giá trị gia tăng trong giáo dục và các nghiên cứu về ứng dụng TQM trong giáo dục của J.M Juran; “QLCL theo phương pháp Nhật” của Kaoru Ishukawa (1990) [51]; Harvey và Green (1993) về các khía cạnh thể hiện chất lượng như sự xuất sắc, hoàn hảo, sự phù hợp và thể hiện giá trị; “QLCL đồng bộ” của John S. Patrick (1998) về Bảo đảm chất lượng trong giáo dục đại học ở Hoa Kỳ và Anh Quốc;. - Luis Eduarda Gonzalez (1998) đã đưa ra quan niệm về CLĐT trong các trường đại học như một hệ thống các khía cạnh, sự phù hợp, hiệu quả, nguồn lực, hiệu suất và quá trình. Trong các khía cạnh này, sự phù hợp được xem như là một khía cạnh đóng vai trò chủ chốt, quyết định đối với CLĐT.
- Crawford và Shutler (1999) đã so sánh lợi ích của việc áp dụng quản lý chất lượng tổng thể trong quản lý giáo dục. Sherr và Lozier (1991) cho rằng, TQM như một mô hình ba chiều bao gồm: Thiết kế, Đầu ra và Quá trình. - Trong những năm 70 của thế kỷ XX, thành công của quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp đã làm thay đổi cả nền kinh tế Nhật Bản. Thông qua quá trình triển khai quản lý chất lượng trong các doanh nghiệp, Nhật Bản đã phát triển các tư tưởng của quản lý chất lượng và tạo nên một văn hóa cải tiến liên tục.
Matsushita Konosuke (2000) đã trình bày mô hình TQM theo “kiểu Nhật”: Kiểm soát chất lượng toàn công ty. Trong mô hình đó “tinh thần đồng đội” được đặc biệt đề cao. Theo ông, “tinh thần đồng đội” được thể hiện ví như sự hợp lực của các thành viên trong đội bóng đá. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com - Silva Roncelli – Vaupot (2000) quan niệm hệ thống quản lý chất lượng giáo dục là một hệ thống nhằm đảm bảo chất lượng giáo dục thông qua quy trình quản lý và giám sát việc thực hiện với mục đích hòa nhập quá trình đào tạo với những cơ chế thích hợp đề đảm bảo chất lượng theo từng công đoạn của quá trình đào tạo.
Quá trình này phải có kế hoạch cụ thể, sản phẩm tạo ra phải được thiết kế, phải có chiến lược cụ thể nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra. Mô hình này khá hợp lý và có thể áp dụng quản lý chất lượng giáo dục ở Việt Nam. - Hai tác giả Davies và Ellison nghiên cứu các tiêu chí đánh giá hệ thống chất lượng Châu Âu với mô hình đánh giá chất lượng của Hoa Kỳ. Trong tác phẩm “Educational Admistration” (2001), Hoy W.G đã đề cập đến nguồn gốc, khái niệm, triết lý, mô hình quản lý chất lượng [95].
Trong 6 tiêu chí của Giải thưởng chất lượng quốc gia Malcolm Baldridge là danh mục về chất lượng dưới góc độ TQM làm cơ sở đánh giá chất lượng tổ chức. Đó là 6 tiêu chí: 1) Lãnh đạo; 2) Xây dựng kế hoạch chiến lược; 3) Chú trọng khách hàng và thị trường; 4) Thông tin và phân tích; 5) Chú trọng nguồn nhân lực; 6) Quá trình quản lý. Giải thưởng Deming bao gồm 10 tiêu chí: 1) Chính sách; 2) Quản lý của tổ chức; 3) Giáo dục; 4) Thu thập thông tin; 5) Phân tích; 6) Chuẩn hóa; 7) Kiểm tra; 8) Đảm bảo chất lượng; 9) Kết quả; 10) Xây dựng kế hoạch tương lai. Deming đã đưa ra những vấn đề gợi ý về giáo dục như ở bảng 1.
12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.1: Những vấn đề và gợi ý của Deming về giáo dục Vấn đề của Deming Gợi ý về giáo dục Tạo ra sự kiên trì về mục đích cải tiến Thậm chí nếu các trường không nhu cầu về cạnh tranh và sản phẩm và dịch vụ, với mục đích có khả năng trong kinh doanh vì nó là thị trường bán được giá sức cạnh tranh và có khả năng trong cao, nhà trường phải cải tiến nền tảng liên tục bởi vì sự bùng kinh doanh, và cung cấp nghề nghiệp. nổ về kiến thức và sự thay đổi về phương pháp học. Nhà trường cần phát triển phối cảnh trung và dài hạn về sự phát triển và tiến về phía trước. Chấp nhận một triết lý mới Chất lượng là một hành trình liên tục.
Tạo ra nó do việc thực hiện sứ mệnh nhà trường. Gợi ý của giáo dục là thông qua triết lý mới và tiếp cận hợp lý về phát triển chính thể luận của SV. Hơn nữa, xây dựng giáo dục trên 4 trụ cột của việc học (UNESCO, 1996) Dừng việc dựa vào sự thanh tra để tạo Thay thế việc thanh tra ngoài bằng cơ chế đảm bảo chất ra đạt được chất lượng. lượng bên trong liên tục.
Giới hạn phần thưởng của công ty trên Lựa chọn giáo viên tốt nhất và nguồn giảng dạy ở giá thành cơ sở của giá thành. có thể, không ở mức giá thấp nhất.