Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG CHĂM SÓC SỨC KHỎE THỂ CHẤT CHO TRẺ MẪU GIÁO LỚN Ở TRƯỜNG MẦM NON 1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu 1. Một số công trình nghiên cứu ở nước ngoài Công tác CSSKTC cho trẻ em là một phần rất quan trọng của chiến lược phát triển đất nước, là yếu tố cơ bản để nâng cao chất lượng cuộc sống của con người, của từng gia đình và của toàn xã hội. Trên thế giới có một số công trình nghiên cứu đến vấn đề chăm sóc sức khỏe cho trẻ nói chung và CSSKTC cho trẻ mẫu giáo lớn nói riêng.A Xukhomlinxki đã tổng kết những thành công cũng như thất bại của 26 năm kinh nghiệm thực tiễn làm công tác quản lý chuyên môn nghiệp vụ của một Hiệu trưởng.
Cùng với nhiều tác giả ông đã nhấn mạnh đến sự phân công hợp lý, sự phối hợp chặt chẽ, sự thống nhất quản lý giữa Hiệu trưởng và Phó Hiệu trưởng để đạt được mục tiêu của các hoạt động chuyên môn nghiệp vụ đã đặt ra. Các tác giả đều khẳng định vai trò lãnh đạo toàn diện của Hiệu trưởng. Tuy nhiên, trong thực tế cùng tham gia hoạt động chăm sóc sức khỏe cho trẻ ở trường Mầm non còn có vai trò của Phó Hiệu trưởng, các tổ trưởng và các tổ chức đoàn thể. Xverxlerơ nhấn mạnh đến việc phân tích bài giảng, sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn.
Ông cho rằng dự giờ và phân tích bài giảng là đòn bẩy quan trọng nhất trong công tác quản lý chuyên môn nghiệp vụ của người giáo viên nhìn thấy và khắc phục các thiếu sót đồng thời phát huy mặt mạnh nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ [13]. Nghiên cứu về tác động của trình độ đào tạo của giáo viên với chất lượng chăm sóc giáo dục (CSGD) trẻ em, của 2 tác giả Ramela Kelley và Gregory Camilli (2007) đã cho thấy rằng, những GV có trình độ cao hơn trình độ cử nhân thì có tác động tích cực đến chất lượng CSGD trẻ. Nghiên cứu này chỉ ra rằng ảnh hưởng về kết quả CSGD trẻ của những GV có trình độ cử nhân thì khác đáng kể so với kết quả chăm sóc từ các GV có trình độ GD thấp hơn [35]. Một nghiên cứu khác cũng chỉ ra mối quan hệ giữa những đặc điểm của GV và điều kiện lớp học với hoạt động chăm sóc trẻ, của 2 tác giả Andrew J và Robert C.
5 download by : skknchat@gmail. Trong tác phẩm đó chỉ ra rằng trình độ đào tạo, lĩnh vực đào tạo và những điều kiện của lớp học như kích thước lớp học, số lượng trẻ và chương trình CSGD trẻ có tác động gián tiếp đến việc học tập và phát triển thể chất của trẻ [11]. Vào năm 1980 tác giả William Fowler chỉ ra những yếu tố nhằm nâng cao chất lượng CSGD trẻ có chất lượng cao có thể giúp phát triển tốt thể chất và tình cảm - xã hội cho trẻ [11]. Như vậy, các nghiên cứu về chăm sóc sức khỏe trẻ em nói chung và chăm CSSKTC cho trẻ mẫu giáo lớn trong trường Mầm non nói riêng đã được các nhà nghiên cứu trên thế giới nghiên cứu khá nhiều, nhưng những nghiên cứu về quản lý hoạt động CSSKTC cho trẻ trong trường Mầm non thì hầu như có rất ít tài liệu đề cập đến.
Một số công trình nghiên cứu ở Việt Nam Để nâng cao chất lượng CSGD trẻ em ở trường Mầm non nói chung và chăm sóc về mặt thể chất cho trẻ nói riêng. Ở nước ta cùng với những kết quả đã đạt được trong thực tế hoạt động chăm sóc, thì các nhà nghiên cứu cũng đã quan tâm đến việc nghiên cứu tìm ra các giải pháp tốt nhất để CSSKTC cho trẻ. Đối với giáo dục Mầm non, có một số tác giả nhấn mạnh vai trò của quản lý hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ, cụ thể; công trình nghiên cứu “Khảo sát khẩu phần ăn trưa và bữa phụ” của tác giả Lê Thị Khánh Hoà (1983) có đưa ra khảo sát khẩu phần ăn trưa năng lượng của trẻ ở trường Mầm non. Kết quả nghiên cứu cho thấy tình hình cung cấp năng lượng cho trẻ ở trường Mầm non còn thấp so với tiêu chuẩn; tỉ lệ các chất sinh năng lượng chưa cân đối, chưa hợp lý, trong đó lượng Gluxit quá cao, còn lượng Lipit thì quá thấp.
Đồng thời tác giả cũng chỉ ra một nguyên nhân dẫn đến tình hình trên như: bếp ăn mới được hình thành, cơ sở vật chất thiếu thốn, có nhiều quan niệm coi nhẹ việc nuôi nên các hình thức tổ chức còn nghèo nàn. Từ đó tác giả đưa ra các giải pháp: Trang bị đầy đủ cơ sở vật chất cho các trường Mầm non để đảm bảo cho việc tổ chức ăn cho trẻ; đào tạo đội ngũ cô nuôi có trình độ hiểu biết về dinh dưỡng cho trẻ…. Việc “Điều tra tình trạng dinh dưỡng của trẻ mẫu giáo ở một số trường phía Bắc” của tác giả Nguyễn Thị Ngọc Trâm (1989) và “tình hình cung cấp dưỡng chất cơ bản cho trẻ ở một số trường mẫu giáo” của tác giả Võ Thị Cúc (1992) cũng cho thấy việc cung cấp dưỡng chất cơ bản (Gluxit, Lipit) cho trẻ mẫu giáo ở các trường Mầm non của ta hiện nay còn thấp. Chúng ta mới chỉ cung cấp được khoảng 70% nhu cầu cần thiết tối thiểu năng lượng cho trẻ mẫu giáo và năng lượng đó chủ yếu là do 6 download by : skknchat@gmail.com Gluxit mang lại.
Mặt khác hai tác giả cũng nhấn mạnh việc nâng cao hơn nữa kiến thức khoa học về dinh dưỡng cho trẻ mẫu giáo đối với các cơ sở nuôi dạy trẻ là cần thiết, tránh tình trạng cho ăn theo kinh nghiệm hoặc tổ chức dinh dưỡng thiếu lý luận toàn diện, chặt chẽ và kém hiệu quả. Đồng thời, nhà trường và gia đình cần có sự hiểu biết đúng đắn về mối quan hệ giữa nuôi và dạy, giữa sức khoẻ thể chất và sức khoẻ tinh thần của trẻ mẫu giáo. Năm 2001, cuốn sách “Kỹ năng và bài tập thực hành quản lý trường Mầm non của Hiệu trưởng” của tác giả Trần Bích Liễu, cuốn sách này cung cấp những tri thức khoa học về nghiệp vụ quản lý trường Mầm non và hệ thống các bài tập hình thành các kỹ năng cơ bản của người Hiệu trưởng như: kỹ năng lập kế hoạch. Đề tài luận văn thạc sĩ: “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả GD thể chất cho trẻ 5 - 6 tuổi thông qua trò chơi đóng vai theo chủ đề” của tác giả Lục Thị Trung Hải, Đại học sư phạm Hà Nội, năm 2005.
Tác giả tập trung nghiên cứu vai trò hoạt động chơi trong sự phát triển thể chất của trẻ và đề ra những biện pháp làm nâng cao hiệu quả GD thể chất cho trẻ thông qua các trò chơi đóng vai theo chủ đề, góp phần phát triển vận động trẻ nhằm nâng cao SKTC cho trẻ. Các công trình nghiên cứu của các tác giả trình bày trên đã đề cập một số nội dung liên quan đến công tác CSGD trẻ em ở trường Mầm non, các giải pháp nâng cao chất lượng CSGD. Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về quản lý hoạt động CSGD thể chất cho trẻ Mầm non. Quản lý hoạt động CSGD thể chất cho trẻ là vấn đề quan trọng, bức thiết nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả GD trẻ em ở các trường Mầm non, cần thiết phải nghiên cứu, hoàn thiện và áp dụng vào các trường Mầm non khác nhau trên phạm vi vùng, miền và quốc gia.
Một số khái niệm công cụ của đề tài 1. Quản lý Quản lý là một hoạt động thiết yếu được hình thành để tổ chức, phối hợp và điều hành các hoạt động của các cá nhân khác nhau trong một nhóm nhỏ hay là tổ chức rộng lớn nhằm đạt mục đích nhất định. Quản lý là một hoạt động phổ biến và cần thiết diễn ra trong mọi lĩnh vực, ở mọi cấp độ và liên quan đến mọi người. Nếu không có quản lý thì sẽ dẫn đến tình trạng tự phát, tuỳ tiện, hỗn loạn trong các tổ chức và hoạt động trở nên kém hiệu quả C.Mác coi đó là một hoạt động tự nhiên, tất yếu của mọi tổ chức, tập thể trong đời sống xã hội: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng 7 download by : skknchat@gmail.com đều cần đến quản lý để điều hoà những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng”[12, tr. Quản lý là một khoa học đồng thời là một nghệ thuật, có nhiều cách hiểu khác nhau về quản lý: - Theo từ điển tiếng Việt thông dụng, NXB GD, 1998, thuật ngữ quản lý được định nghĩa là: “ Tổ chức điều khiển hoạt động của một đơn vị, cơ quan” [dẫn theo 22, tr. - Theo Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt, “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý có hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định. Những mục tiêu này đặc trưng cho trạng thái mới của hệ thống mà người quản lý mong muốn” [24, tr.
- Theo Hà Sỹ Hồ, “Quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích) có tổ chức, lựa chọn trong các tác động có thể có dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường, nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục đích đã định ” [20, tr. - Quản lý là một nghệ thuật đạt được mục tiêu đó đề ra thông qua việc điều khiển, phối hợp, hướng dẫn, chỉ huy hoạt động của người khác. Theo Nguyễn Quốc Chí, nguyễn Thị Mỹ Lộc, quản lý có các chức năng là kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá. Các chức năng này đồng thời cũng là quy trình của quản lý.
Mọi công việc quản lý đều phải bắt đầu từ việc xây dựng kế hoạch tiếp đến là hình thành tổ chức, bố trí nhân sự và các nguồn lực khác để thực hiện công việc tiếp đến là chỉ đạo triển khai công việc và thường xuyên kiểm tra đánh giá các bước, các khâu trong quá trình thực hiện để kịp thời uốn nắn, điều chỉnh tiến độ của kế hoạch, điều chỉnh nhân sự và các nguồn lực khác khi cần thiết.