CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ CÁN BỘ LÃNH ĐẠO, QUẢN LÝ TRONG DOANH NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về quản lý cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp 1. Khái niệm, đặc điểm và vai trò của cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp 1. Khái niệm * Khái niệm doanh nghiệp: Luật Doanh nghiệp 2020 đã sửa đổi khái niệm doanh nghiệp nhà nước theo nguyên tắc phân chia các loại doanh nghiệp có sở hữu nhà nước theo mức độ sở hữu khác nhau, mỗi loại hình doanh nghiệp có quy định về tổ chức quản trị phù hợp để nâng cao hiệu lực quản trị, công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình, bảo đảm bình đẳng với doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác.
Theo đó tại khoản 10 Điều 4 Luật Doanh nghiệp sửa đổi 2020 quy định: “Doanh nghiệp nhà nước bao gồm các doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết theo quy định tại Điều 88 của Luật này”. Cụ thể, Điều 88 Luật Doanh nghiệp sửa đổi năm 2020 quy định khái niệm doanh nghiệp Nhà nước theo các loại doanh nghiệp có sở hữu Nhà nước với các mức độ sở hữu khác nhau: “1. Doanh nghiệp nhà nước được tổ chức quản lý dưới hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, bao gồm: a) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ; b) Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên, trừ doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ.” Theo đó, doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên do Nhà nước nắm giữ 100% vốn 5 điều lệ là công ty mẹ của tập đoàn kinh tế nhà nước, công ty mẹ của Tập đoàn nhà nước, công ty mẹ trong nhóm công ty mẹ - công ty con; Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là công ty độc lập do Nhà nước nắm giữ 100% vốn điều lệ. Doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ hoặc tổng số cổ phần có quyền biểu quyết bao gồm: Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết là công ty mẹ tập đoàn kinh tế, Tập đoàn hoặc trong nhóm công ty mẹ - công ty con.
Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty cổ phần là công ty độc lập do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, tổng số cổ phần có quyền biểu quyết. Công ty cổ phần FPT telecom là doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ, có cơ cấu cổ đông khá cô đặc với 95,82% lượng cổ phiếu lưu hành thuộc sở hữu của các cổ đông lớn. Trong cơ cấu cổ đông của FPT Telecom, Tổng công ty đầu tư và kinh doanh vốn Nhà nước (SCIC) là cổ đông lớn nhất nắm giữ tới 50,17%, trong khi CTCP FPT (mã FPT) cũng sở hữu 45,65% cổ phần ngoài ra là các cổ đông nhỏ khác. * Khái niệm cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp Khái niệm CBLĐQL xuất hiện rất nhiều trong các văn bản của Nhà nước cũng như các báo và tạp chí của Việt Nam.
Tuy nhiên, đến nay chưa có một văn bản nào chính thức định nghĩa về khái niệm này. Vì vậy, để hiểu khái niệm CBLĐQL chúng ta đưa ra một số khái quát như sau: Theo Nguyễn Khánh Ly (2012): “Cán bộ lãnh đạo, quản lý là những công chức giữ cương vị chỉ huy trong điều hành công việc của các doanh nghiệp. Tùy theo tính chất công việc ở các vị trí khác nhau mà phân ra cán bộ lãnh đạo ở các cấp độ cao thấp khác nhau. Cán bộ lãnh đạo là người được quyền ra quyết định quản lý, chịu trách nhiệm cá nhân về hoạt động của đơn vị mình phụ trách, tổ chức và điều hành những đơn vị hoặc cá nhân dưới quyền thực hiện công việc”.
Cán bộ quản lý bao gồm tất cả những người tham gia đứng đầu một hệ thống 6 quản lý và hình thành chức năng nhất định và hoàn toàn chịu trách nhiệm về hệ thống do mình phụ trách. Đó là tất cả những người không tham gia trực tiếp vào quá trình sản xuất. Lãnh đạo là đề ra chủ trương, đường lối, nguyên lý, sách lược, những mục tiêu lâu dài, còn quản lý chú trọng những yêu cầu có tính chiến thuật, mục tiêu cụ thể và thường là ngắn hạn. Một cán bộ quản lý được xác định bởi ba yếu tố.
- Có vị thế trong tổ chức với những quyền hạn nhất định trong quá trình ra quyết định. - Có chức năng thể hiện những công việc cần thực hiện trong toàn bộ hoạt động của tổ chức. - Có nghiệp vụ thể hiện phải đáp ứng những đòi hỏi nhất định của công việc. Cán bộ lãnh đạo, quản lý là một trong những nhân tố cơ bản quyết định sự thành công hay thất bại của cả hệ thống trong hoạt động.
Người cán bộ lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp là người năng động, có bản lĩnh, dám đương đầu với thách thức; Tự tin, có phong cách chuyên nghiệp và quyết đoán; Xây dựng mục tiêu, kế hoạch hành động và đưa ra các giải pháp xử lí tối ưu cho mọi tình huống. Thông thường cán bộ lãnh đạo, quản lý được phân loại theo 3 cấp (Nguyễn Thị Anh Trâm, 2014): - Cán bộ quản lý cấp cao: là những người chịu trách nhiệm ra những chiến lược quyết định hoặc có những ảnh hưởng lớn tới các quyết định chiến lược, đề ra các chính sách chỉ đạo quan hệ giữa tổ chức. Đây là những người chịu trách nhiệm toàn diện đối với hoạt động của tổ chức. - Cán bộ quản lý cấp trung: Là người điều hành việc thực hiện ra quyết sách, các chính sách đưa ra bởi cấp cao.
Thiết lập mối quan hệ giữa những đòi hỏi của nhà quản lý với năng lực của nhân viên. Họ thường là những người phụ trách các phân hệ, các bộ phận trong tổ chức. - Cán bộ quản lý cấp thấp: Là những người chịu trách nhiệm về công việc của các nhân viên. Chỉ đạo, điều hành, giám sát hoạt động của người lao động.
Đặc điểm nguồn nhân lực lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp Theo Trịnh Minh Nam (2011), nguồn nhân lực lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp có những đặc điểm sau: - Có trình độ và năng lực chuyên môn phù hợp về kinh tế, chính sách và quản lý hoặc các chuyên ngành kỹ thuật khác nhưng được trang bị thêm kiến thức về kinh tế, quản lý. - Là người trực tiếp tham gia vào quá trình tham mưu, hoạch định, tổ chức thực hiện các quy định, chính sách và cơ chế quản lý của bộ phận và của doanh nghiệp. - Là những người có khả năng đưa ra phương án tối ưu nhằm sử dụng hiệu quả các nguồn lực về con người, tài chính và vật lực của doanh nghiệp. - Có năng lực, tư duy, kỹ năng về kinh tế, quản lý.
Có khả năng xây dựng định hướng, chương trình, mục tiêu, dự án, các thể chế, kế hoạch, công cụ quản lý trong doanh nghiệp. - Có kinh nghiệm tổ chức, triển khai các hoạt động kinh tế, xử lý tình huống, phân tích, dự báo, kế hoạch, tổ chức, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra, điều chỉnh, đánh giá, tổng kết… các hoạt động sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp. - Có những hiểu biết sâu về kinh tế thị trường, xu hướng phát triển của nền kinh tế thế giới và kinh tế trong nước, biết phân tích và khái quát các vấn đề kinh tế; đưa ra những giải pháp giải quyết các vấn đề một cách phù hợp, thích ứng được với hoàn cảnh. Vai trò của nguồn nhân lực lãnh đạo, quản lý đối với doanh nghiệp Nguồn nhân lực lãnh đạo có vai trò rất quan trọng trong doanh nghiệp, không chỉ thực hiện việc đối nội, phối hợp hoạt động giữa các bộ phân, phòng ban trong doanh nghiệp mà còn giữ vai trò đối ngoài trong quan hệ với khách hàng và đối tác (Phạm Trương Hoàng, 2010).
- Vai trò giao tiếp, quan hệ Đối với bên ngoài, người cán bộ lãnh đạo, quản lý đại diện cho tập thể mà người đó quản lý. Người cán bộ lãnh đạo, quản lý không chỉ giữ vai trò trong nội bộ công ty mà còn đảm nhận trách nhiệm phát triển các quan hệ bên ngoài dưới danh 8 nghĩa công ty. Đó có thể là đại diện cho công ty phát biểu, cam kết thực hiện trước truyền thông để quảng bá hình ảnh của doanh nghiệp; thực hiện đàm phán, tiếp xúc, phát triển quan hệ với khách hàng, đối tác…để phát triển mạng lưới kinh doanh, nâng cao thị phần và sức ảnh hưởng của doanh nghiệp trong ngành. Đối với bên trong, người cán bộ lãnh đạo, quản lý có vai trò liên kết mọi người trong doanh nghiệp để hoàn thành mục tiêu chung.
Doanh nghiệp là tập hợp các bộ phận, phân hệ với trách nhiệm và quyền hạn nhất định được phân công thực hiện các chức năng quản lý. Mỗi bộ phận, phân hệ đảm nhiệm một chức năng quản lý nhất định và vì vậy hình thành các cấp bậc quản lý trong bộ máy. Các bộ phận, phân hệ không hoạt động một cách hoàn toàn riêng biệt mà chúng có mỗi liên hệ chặt chẽ với nhau tạo thành một chỉnh thể thống nhất. Vai trò liên kết giữa các bộ phận, phối hợp hoạt động của các cá nhân, các bộ phận với nhau một cách hiệu quả, nhịp nhàng để tạo được sức mạnh tổng hợp thuộc về cán bộ quản lý trong doanh nghiệp.
- Vai trò thông tin: Người quản lý như một cầu nối trung gian giữa cấp lãnh đạo và cấp dưới. Họ tiếp thu chỉ đạo các chính sách, chương trình từ cấp trên xuống sau đó truyền đạt, triển khai thực hiện xuống cấp dưới. Đồng thời, họ cũng giữ vai trò làm kênh truyền đạt thông tin từ cấp dưới phản ảnh lên cấp trên. Đó có thể là ý kiến đóng góp, phản ánh từ cấp dưới trong quá trình thực hiện chính sách, chủ trương hay thể hiện tâm tư nguyện vọng của người lao động để lãnh đạo công ty kịp thời nắm bắt và có những điều chỉnh phù hợp, củng cố lòng tin trong người lao động.
Thêm vào đó, họ còn là kênh để cung cấp thông tin cho bên ngoài. - Vai trò quyết định: Đây là vai trò quan trọng nhất của người quản lý. Bên cạnh đó, cán bộ quản lý là cũng là người có quyền quyết định và chịu trách nhiệm về những quyết định của mình.