CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BỒI DƯỠNG NGHIỆP VỤ SƯ PHẠM CHO GIẢNG VIÊN ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG. Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Một trong những yếu tố quan trọng quyết định chất lượng và hiệu quả của sự nghiệp giáo dục - đào tạo nói chung và chất lượng giáo dục đại học nói riêng chính là đội ngũ giảng viên. Sự phát triển của GD & ĐT ngày nay đòi hỏi người giảng viên cần có năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực xã hội khác, bởi họ sẽ là những người trực tiếp tham gia vào sự nghiệp đào tạo, giáo dục thế hệ trẻ thành những con người có đủ năng lực đáp ứng các yêu cầu của xã hội hiện đại. Để có được đội ngũ giáng viên đủ mạnh, đủ chuẩn, đáp ứng được yêu cầu đổi mới hiện nay, vấn đề đào tạo bồi dưỡng giảng viên là hết sức cần thiết và quan trọng.
Vấn đề này đã được các nhà khoa học giáo dục, các nhà QLGD quan tâm, nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi chúng ta đã bước sang thế kỉ 21 với nền kinh tế tri thức và yêu cầu ngày càng cao của xã hội đối với giáo dục. Ở Việt Nam hiện nay, nhiều nhà khoa học, nhà giáo dục, nhiều cán bộ giảng dạy, cán bộ quản lý giáo dục,… quan tâm nghiên cứu vấn đề bồi dưỡng nghiệp vụ cho giảng viên ở các góc độ, nội dung, hình thức khác nhau nhằm nâng cao trình độ, vị trí, vai trò, nhiệm vụ của người giáo viên và của công tác đào tạo, bồi dưỡng giảng viên. Bồi dưỡng NVSP là một hoạt động không thể thiếu được trong công tác bồi dưỡng giảng viên đang tham gia công tác giảng dạy. Các vấn đề liên quan tới đào tạo và bồi dưỡng NVSP cho giảng viên đã được nhiều nhà giáo dục, nhiều chuyên gia đề cập tới.
Đã có khá nhiều công trình như: Lê Trần Lâm với “Đào tạo và bồi dưỡng giáo viên” (1992); Nguyễn Hữu Long chủ 6 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com nhiệm đề tài: “Xây dựng và hoàn thiện quy trình rèn luyện kỹ năng sư phạm theo quy trình đào tạo mới”( Trường Đại học Sư phạm Hà Nội - 1994); Nguyễn Minh Đường với “Bồi dưỡng và đào tạo lại nguồn nhân lực” (1996); Nguyễn Hữu Dũng với “Hình thành kỹ năng sư phạm cho sinh viên” (1995); Phạm Trung Thanh và Nguyễn Thị Lý với “Rèn luyện nghiệp vụ SP thường xuyên” (2004), Hà Thị Thanh Thủy với “Các biện pháp quản lý nhằm nâng cao chất lượng đào tạo các lớp cấp chứng chỉ nghiệp vụ sư phạm tại Khoa Sư phạm, Đại học Quốc gia Hà nội”,. Ngoài ra còn khá nhiều các đề tài nghiên cứu khoa học các cấp, các luận văn, bài báo đề cập tới hoạt động bồi dưỡng giảng viên nhưng chưa công trình nào đề cập tới quản lý hoạt động bồi dưỡng NVSP ĐH của Trường Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà nội, đề tài này lần đầu tiên được nghiên cứu với các điều kiện và số liệu cụ thể ở các lớp bồi dưỡng NVSP ĐH do Trường Đại học Giáo dục tổ chức. Một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài nghiên cứu 1. Khái niệm quản lý Trong lịch sử phát triển xã hội, từ khi con người biết kết hợp sức nhau lại để tự vệ hoặc mưu sinh, thì bên cạnh lao động chung của mỗi người đã xuất hiện những hoạt động mang tính đặc thù có tổ chức, phối hợp, điều khiển như một tất yếu khách quan nhằm thực hiện mục tiêu chung đã định.
Dạng lao động đặc thù đó được gọi là quản lý. Quản lý là một dạng lao động xã hội đặc biệt, điều khiển các hoạt động lao động, vừa có tính khoa học vừa có tính nghệ thuật, đồng thời cũng là sản phẩm có tính lịch sử.Marx đã viết: “ Bất cứ lao động xã hội hay cộng đồng trực tiếp nào, được thực hiện ở quy mô tương đối lớn, đều cần ở một chừng mực nhất định đến sự quản lý; quản lý xác định sự tương hợp 7 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com giữa các công việc cá thể và hoàn thành những chức năng chung xuất hiện trong sự vận động của các bộ phận riêng rẽ của nó” [ 28, tr. Quản lý là một trong những loại hình lao động có hiệu quả nhất, quan trọng nhất trong các hoạt động của con người. Quản lý đúng tức là con người đã nhận thức được quy luật, vận động theo quy luật và sẽ đạt được những thành công to lớn.
Trong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển đều phải dựa vào sự nỗ lực của cá nhân, của một tổ chức, từ một nhóm nhỏ đến phạm vi rộng hơn tầm quốc gia, quốc tế thì đều phải thừa nhận và chịu một sự quản lý nào đó. Tuỳ theo những cách tiếp cận, thuật ngữ “quản lý” được các nhà khoa học định nghĩa theo nhiều cách khác nhau: - W. Taylor cho rằng: “Quản lý là biết được chính xác điều bạn muốn người khác làm và sau đó hiểu được rằng họ đã hoàn thành công việc một cách tốt nhất và rẻ nhất” [ 28, tr.23 ] - Theo tác giả người Đức Baranger cho rằng: Quản lý là cai trị một tổ chức bằng cách đặt ra các mục tiêu và hoàn chỉnh các mục tiêu cần phải đạt, là lựa chọn, sử dụng các phương tiện nhằm đạt được các mục tiêu đã định. - Theo Harold Koontz: “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, bảo đảm phối hợp những nỗ lực cá nhân nhằm đạt được các mục đích của tổ chức” [ 28, tr.25 ] - Quan điểm triết học cho rằng: Quản lý được xem như một quá trình liên kết thống nhất giữa chủ quan và khách quan để đạt mục tiêu nào đó - Theo quan điểm chính trị xã hội, người ta cho rằng: “Quản lý là sự tác động liên tục có tổ chức, có định hướng của chủ thể (người quản lý, tổ chức quản lý) lên khách thể (đối tượng quản lý) về các mặt chính trị, văn hoá, xã hội, kinh tế bằng một hệ thống các luật lệ, các chính sách, các nguyên tắc, các phương pháp và các biện pháp cụ thể nhằm tạo ra môi trường và điều kiện cho sự phát triển của đối tượng” [8, tr.7] 8 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com - Theo quan điểm hệ thống: “Quản lý là sự tác động có tổ chức, có định hướng của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả nhất các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống để đạt được mục tiêu đặt ra trong điều kiện biến đổi của môi trường” [26, tr.
Ngày nay, thuật ngữ quản lý đã trở nên rất phổ biến và được sự quan tâm đặc biệt, khoa học quản lý được coi là chìa khoá vàng cho những thành công của cá nhân hay tổ chức. Theo tác giả Trần Kiểm: “Quản lý là những tác động chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng, điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ưu nhằm đạt mục đích của tổ chức với hiệu quả cao nhất và quản lý một hệ thống xã hội là tác động có mục đích đến tập thể người – thành viên của hệ - nhằm làm cho hệ vận hành thuận lợi và đạt mục đích dự kiến.15] Theo tác giả Hà Thế Ngữ: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý là một hệ thống là quá trình tác động đến hệ thống nhằm đạt được mục tiêu nhất định.8] Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý là quá trình tác động gây ảnh hưởng của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu chung.17] Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí và Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “Quản lý là hoạt động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý (người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức.3] Qua những định nghĩa trên ta thấy quản lý có những đặc trưng cơ bản sau: Quản lý bao gồm hai thành phần: chủ thể và khách thể quản lý. Chủ thể và khách thể quản lý có mối quan hệ tác động qua lại, tương hỗ nhau, chủ thể làm nảy sinh các tác động quản lý, còn khách thể thì nảy 9 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com sinh các giá trị vật chất và tinh thần, có giá trị sử dụng, trực tiếp đáp ứng nhu cầu của con người, thoả mãn mục đích của chủ thể quản lý. Quản lý là hoạt động nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc thông qua sự nỗ lực của người khác.
Cũng có ý kiến cho rằng quản lý là quá trình lập kế hoạch, tổ chức, lãnh đạo và kiểm tra công việc các thành viên thuộc một hệ thống đơn vị và việc sử dụng các nguồn lực phù hợp để đạt được các mục đích đã định. Tuy vậy, theo nghĩa rộng, quản lý là hoạt động có mục đích của con người. Quản lý với tư cách là một hành động, có thể định nghĩa: Quản lý là sự tác động có tổ chức, có hướng đích của chủ thể quản lý tới khách thể quản lý nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Dù được hiểu theo cách nào về quản lý cũng cần quan tâm một số điểm sau: - Quản lý bao giờ cũng là một tác động hướng đích, có mục tiêu xác định.
- Quản lý thể hiện mối quan hệ giữa hai bộ phận của chủ thể quản lý và khách thể quản lý, là quan hệ không đồng cấp, có tính bắt buộc. - Quản lý là sự tác động mang tính chủ quan nhưng phải phù hợp với quy luật khách quan. - Quản lý xét về mặt công nghệ là sự vận động của thông tin. Tóm lại, những khái niệm về quản lý nêu trên đều có các đặc trưng chủ yếu là: tính tự giác, tính mục đích và tính quần chúng trong quản lý.
Đây được xem là cơ sở phương pháp luận của mọi hoạt động quản lý. Như vậy, có thể nói, quản lý là một quá trình tác động có định hướng (có chủ đích), có tổ chức, có lựa chọn trong số các tác động có thể có, dựa trên các thông tin về tình trạng của đối tượng và môi trường nhằm giữ cho sự vận hành của đối tượng được ổn định và làm cho nó phát triển tới mục tiêu đã định. Trong các diễn đạt trên đây đều cho thấy những điểm chung như sau: + Quản lý là thuộc tính bất biến nội tại của mọi quá trình, hoạt động xã hội loài người.