Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ BỒI DƯỠNG NĂNG LỰC PHÁT TRIỂN CHƯƠNG TRÌNH MÔN HỌC CHO GIÁO VIÊN TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu - Những nghiên cứu về bồi dưỡng giáo viên: Trong những năm gần đây, đã có nhiều nhà nghiên cứu bàn về các lĩnh vực văn hóa - giáo dục, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên. Các tạp chí, tập san, chuyên san, báo giáo dục thời đại xuất hiện ngày càng nhiều và phong phú về nội dung vấn đề bồi dưỡng giáo viên, phát triển đội ngũ giáo viên. Trong đó có một số tác giả tiêu biểu mà công trình nghiên cứu của họ đã góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ giáo viên như sau: Nguyễn Minh Đường (1996) “Bồi dưỡng và đào tạo đội ngũ nhân lực trong điều kiện mới, chương trình khoa học công nghệ cấp nhà nước” [18].
Nguyễn Tấn Phát (2000) "Tự học, tự bồi dưỡng suốt đời trở thành một quy luật" [29]. Nguyễn Thùy Giang (2014) "Quản lý hoạt động bồi dưỡng giáo viên THCS đáp ứng yêu cầu đổi mới chương trình, sách giáo khoa sau năm 2015 ở thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh” [19]. Những nghiên cứu trên đã đề cập đến vai trò và tầm quan trọng của quản lý, đồng thời cũng đưa ra được một số biện pháp, giải pháp để nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo. Tuy nhiên, vấn đề bồi dưỡng năng lực phát triển chương trình môn học cho giáo viên THPT chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống.
7 download by : skknchat@gmail.com - Những nghiên cứu về phát triển chương trình: Thế kỉ XXI - thế kỉ của nền kinh tế trí thức, Công nghệ thông tin và truyền thông, giữ vai trò quan trọng của tiến trình đổi mới và toàn cầu hóa. Trong bối cảnh hội nhập, các quốc gia muốn phát triển phải tự khẳng định mình, thông qua sự cạnh tranh nguồn nhân lực được đào tạo bồi dưỡng có chất lượng. Đổi mới giáo dục đã được nhiều nước tính đến và quyết tâm cao. Nhiều quốc gia trên thế giới đã chuyển hướng giáo dục, từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực người học như: Úc, Niudilan, Đan Mạch… Trong khi đó, các nhà trường phổ thông của ta hiện nay vẫn thực hiện chương trình do Bộ GD&ĐT qui định; một số trường có ban hành chương trình riêng nhưng còn rất hạn chế.
Bồi dưỡng năng lực phát triển chương trình môn học cho giáo viên là một thuật ngữ được sử dụng còn khá mới mẻ đối với giáo dục Việt Nam. Do vậy, tiếp cận khái niệm “năng lực phát triển chương trình” nhiều chuyên gia giáo dục của Việt Nam (kể cả đội ngũ giáo viên các cấp) còn mơ hồ trong quan niệm “ăn sâu bén rễ” về chương trình là sự ổn định lâu dài, được đóng khung cho một đối tượng, không thể có việc “phát triển chương trình” được. Tư duy này ảnh hưởng đến việc triển khai và viết sách giáo khoa mới hiện nay. Nghiên cứu của Hách Đức Vĩnh (2001) về phương pháp luận phát triển chương trình, NXB Khoa học giáo dục, Bắc Kinh đã chỉ ra “Phát triển chương trình hàm chứa mọi nội dung và trình tự của quá trình xây dựng chương trình.
Chỉ hoạt động lựa chọn, tổ chức, điều chỉnh nhằm giúp học sinh thu được kinh nghiệm mang tính giáo dục, thúc đẩy sự phát triển thể chất và tinh thần của học sinh, khiến cho các kinh nghiệm đó được quy phạm hóa” [36]. Hoặc đề án: “Thí điểm phát triển chương trình giáo dục nhà trường phổ thông theo định hướng phát triển năng lực học sinh” do Phan Văn Kha (2013) làm trưởng ban, đề ra một số hoạt động như: điều chỉnh kế hoạch, nội dung dạy học trong chương trình hiện hành, xây dựng một số chủ đề tích hợp liên môn, đổi mới phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục và đánh giá kết quả giáo dục theo định hướng phát triển năng lực học sinh. 8 download by : skknchat@gmail.com Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, các nhà quản lý nêu trên; nhận thấy các tác giả đều đề cập đến vấn đề phát triển chương trình giáo dục theo định hướng bồi dưỡng năng lực giáo viên, định hướng phát triển năng lực học sinh. chưa tập trung nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề năng lực phát triển chương trình môn học cho giáo viên; chương trình đào tạo tại các trường sư phạm hiện nay ở Việt Nam cũng chưa có nội dung về bồi dưỡng năng lực phát triển chương trình môn học cho giáo viên.
Khái niệm cơ bản 1. Quản lý, quản lý nhà trường 1. Quản lý - Theo quan điểm kinh tế học thì F.W Taylor cho rằng: “Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ nhất”; hoặc A.Fayon cho rằng: “Quản lý là đưa xí nghiệp tới đích, cố gắng sử dụng các nguồn lực (nhân, tài, vật lực) của nó”… - Mác viết ‘Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đền một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể khác với sự vận động khí quan độc lập của nó. Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải nhạc trưởng” [11].
- Các nhà lý luận quốc tế như: Frederich Wiliam Taylor (1856-1915), Mỹ; Henri Fayol (1841-19250, Pháp; Max Weber (1864-1920), Đức đều khẳng định: Quản lý là khoa học và đồng thời là nghệ thuật thúc đẩy sự phát triển xã hội. - Quản lý có nhiều cách tiếp cận và định nghĩa khác nhau: + Quản lý là các hoạt động được thực hiện nhằm đảm bảo sự hoàn thành công việc qua những nỗ lực của người khác. + Quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả các hoạt động của những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức. 9 download by : skknchat@gmail.com + Koontz và O Donnell cho rằng: “Không có lĩnh vực hoạt động nào của con người quan trọng hơn là công việc quản lý, bởi vì mọi quản nhà lý ở mọi cấp độ và trong mọi cơ sở đều có một nhiệm vụ cơ bản là thiết kế duy trì một môi trường mà trong đó các cá nhân làm việc chung với nhau trong các nhóm có thể hoàn thành nhiệm vụ và các mục tiêu đã định”.
+ James Stiner và Stephen Robbins quan niệm: “Quản lý là tiến trình hoạch định, tổ chức, lãnh đạo và kiểm soát những hoạt động của các thành viên trong tổ chức và sử dụng tất cả các nguồn lực khác của tổ chức nhằm đạt được mục tiêu đã đề ra”. + Quản lý về cơ bản là tác động lên con người để điều hành các hoạt động có lợi cho tổ chức và đạt được những mục tiêu tổ chức đặt ra. Để quản lý tốt trước hết phải hiểu sâu sắc về con người với tư cách là đối tượng của quản lý, sau đó phải được đào tạo bồi dưỡng về cách thức tác động; Quản lý là tìm cách, biết cách ràng buộc một cách thông minh, tế nhị việc thỏa mãn nhu cầu cho con người, trên cơ sở khích lệ con người đem hết năng lực thực hiện công việc được giao. + Quản lý là thực hiện những công việc có tác dụng định hướng, điều tiết phối hợp các hoạt động của cấp dưới; Đó chính là thực hiện các chực năng của quản lý.
+ Quản lý là thiết lập, khai thông các quan hệ cụ thể để hoạt động chung được hình thành, tiến hành trôi chảy, đạt hiệu quả cao, bền lâu và không ngừng phát triển. + Quản lý là chủ thể quản lý tác động lên đổi tượng quản lý một cách gián tiếp hoặc trực tiếp nhằm thu được những diễn biến, thay đổi tích cực của cá nhân, tổ chức theo mục tiêu mong đợi [22]. Như vậy, quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đề ra. 10 download by : skknchat@gmail.
Quản lý nhà trường Trường học là đơn vị cơ sở nằm trong hệ thống giáo dục Quốc dân, thực hiện chức năng đào tạo nguồn nhân lực theo yêu cầu của xã hội. Trường học với tư cách là một tổ chức giáo dục cơ sở vừa mang tính giáo dục vừa mang tính xã hội, trực tiếp đào tạo thế hệ trẻ, tế bào quan trọng của hệ thống giáo dục từ Trung ương đến địa phương. - Theo Thái Duy Tuyên “Quản lý nhà trường là thực hiện đường lối của Đảng trong phạm vi trách nhiệm của mình, tức là đưa nhà trường vận hành theo nguyên lý giáo dục để tiến tới mục tiêu giáo dục- đào tạo đối với ngành giáo dục, với thế hệ trẻ và từng học sinh” [35]. - Theo Nguyễn Minh Đạo: “Quản lý nhà trường phổ thông là quản lý dạy và học, tức là làm sao đưa hoạt động đó từ trạng thái này sang trạng thái khác, để dần tới mục tiêu giáo dục” [12].
quản lý nhà trường là những hoạt động của chủ thể quản lý (Hiệu trưởng) đến tập thể giáo viên, công nhân viên, tập thể học sinh, cha mẹ học sinh và các lực lượng xã hội trong và ngoài nhà trường nhằm thực hiện có chất lượng và hiệu quả mục tiêu giáo dục của nhà trường. Năng lực phát triển chương trình môn học - Môn học: Môn học là “Bộ phận của chương trình giáo dục bao gồm những tri thức về một khoa học nhất định”. Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002), môn học được định nghĩa là hệ thống (hoặc bộ phận tri thức) về một lĩnh vực khoa học được sắp xếp theo yêu cầu sư phạm để truyền thụ cho người học, mang các đặc điểm: phản ánh các sự kiện, tri thức, quy luật của khoa học tương ứng phù hợp với mục đích, nhiệm vụ dạy học và khả năng nhận thức của học sinh; các câu hỏi, bài tập v. giúp học sinh tự kiểm tra luyện tập kĩ năng, kĩ xảo.
- Chương trình: Theo Đại từ điển Tiếng Việt (1999), chương trình là “Các mục, các vấn đề, các nhiệm vụ đề ra và được sắp xếp theo trình tự thực hiện trong một thời gian”. Là: “Nội dung kiến thức về một môn học ấn định cho từng 11 download by : skknchat@gmail.com lớp, từng cấp, trong từng năm” [37].