Tổng quan nghiên cứu

Đội ngũ giáo viên giữ vai trò nòng cốt, quyết định chất lượng giáo dục trong bối cảnh thực hiện Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh. Tại huyện vùng cao Mường Chà, tỉnh Điện Biên, mạng lưới giáo dục trung học cơ sở gồm 9 trường với hơn 266 cán bộ quản lý, giáo viên đang trực tiếp giảng dạy cho gần 3.845 học sinh, chủ yếu là con em đồng bào các dân tộc thiểu số. Đặc thù địa bàn miền núi hiểm trở, giao thông chia cắt cùng điều kiện kinh tế khó khăn đã đặt ra thách thức rất lớn đối với việc duy trì và nâng cao năng lực sư phạm cho đội ngũ nhà giáo.

Thực tiễn công tác bồi dưỡng giáo viên tại địa phương thời gian qua vẫn còn bộc lộ những khoảng trống đáng kể so với yêu cầu chuẩn nghề nghiệp ban hành theo Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Hoạt động quản lý bồi dưỡng còn mang tính hành chính, nội dung chưa bám sát nhu cầu thực tế của từng nhóm đối tượng, và phương pháp tổ chức chưa thực sự kích hoạt được tinh thần tự học. Trước yêu cầu cấp thiết đó, công trình nghiên cứu của tác giả Bùi Xuân Bình tại Trường Đại học Sư phạm thuộc Đại học Thái Nguyên năm 2023 đã tập trung làm rõ thực trạng và đề xuất các giải pháp quản lý đồng bộ.

Mục tiêu cụ thể của đề tài là khảo sát toàn diện thực trạng bồi dưỡng và quản lý bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở theo chuẩn nghề nghiệp tại huyện Mường Chà, từ đó xác định khoảng cách năng lực hiện tại và nguyên nhân cốt lõi. Trên cơ sở đó, nghiên cứu đề xuất 6 biện pháp quản lý khoa học, khả thi cho giai đoạn 2023 - 2025 nhằm giúp Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Mường Chà cùng ban giám hiệu 9 trường trung học cơ sở nâng cao hiệu quả đào tạo tại chỗ. Nghiên cứu hướng đến việc nâng điểm đánh giá năng lực nghề nghiệp bình quân của giáo viên từ mức 2,93 điểm hiện tại lên trên 3,50 điểm, đồng thời giảm tỷ lệ giáo viên chưa đạt chuẩn xuống dưới mức 3%.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Khung lý thuyết của luận văn được xây dựng trên sự tích hợp giữa lý thuyết quản lý giáo dục vi mô và các mô hình phát triển chuyên môn nghề nghiệp hiện đại. Nghiên cứu vận dụng quan điểm quản lý trường học của các tác giả Nguyễn Ngọc Quang, Nguyễn Trọng Hậu và Nguyễn Thị Tính. Quản lý bồi dưỡng giáo viên được định vị là sự tác động có định hướng, có kế hoạch của chủ thể quản lý thông qua chu trình 4 chức năng cốt lõi: lập kế hoạch, tổ chức thực hiện, chỉ đạo thực hiện và kiểm tra đánh giá.

Bên cạnh đó, nghiên cứu kết hợp lý thuyết bồi dưỡng giáo viên tại nơi làm việc của Andrea Kárpáti và mô hình bồi dưỡng giáo viên thông qua hợp tác liên trường của Eleonora Villegass-Reimers. Cách tiếp cận này khẳng định rằng năng lực nghề nghiệp của nhà giáo phát triển tối ưu thông qua hoạt động tương tác nghề nghiệp hàng ngày, nghiên cứu bài học và hỗ trợ đồng đẳng. Nghiên cứu cũng kế thừa khung năng lực dạy học hiện đại trong kỷ nguyên số của María Soledad Ramírez và Montoya, nhấn mạnh năng lực dạy học phân hóa và ứng dụng công nghệ.

Bốn khái niệm nền tảng xuyên suốt đề tài bao gồm:

  1. Quản lý giáo dục vi mô: Hệ thống tác động có mục đích của hiệu trưởng nhằm vận hành quá trình sư phạm đạt chuẩn chất lượng.
  2. Chuẩn nghề nghiệp giáo viên cơ sở giáo dục phổ thông: Hệ thống phẩm chất, năng lực gồm 5 tiêu chuẩn và 15 tiêu chí được quy định tại Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT.
  3. Bồi dưỡng giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp: Quá trình bổ sung, cập nhật liên tục các năng lực chuyên môn, nghiệp vụ còn thiếu hụt nhằm đạt và vượt chuẩn quy định.
  4. Quản lý bồi dưỡng giáo viên theo chuẩn nghề nghiệp: Quá trình điều hành, phân bổ các nguồn lực sư phạm nhằm hiện thực hóa mục tiêu chuẩn hóa đội ngũ.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu của đề tài được thu thập từ hệ thống báo cáo tổng kết năm học, hồ sơ quản lý bồi dưỡng thường xuyên của Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Mường Chà, cùng kế hoạch năm học của 9 trường trung học cơ sở khảo sát trong giai đoạn năm học 2022 - 2023.

Nghiên cứu tiến hành khảo sát chọn mẫu phân tầng kết hợp ngẫu nhiên với tổng cỡ mẫu là 107 cá nhân. Khách thể khảo sát bao gồm 5 cán bộ quản lý cấp Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Mường Chà, 30 cán bộ quản lý cấp trường (gồm hiệu trưởng, phó hiệu trưởng, tổ trưởng chuyên môn) và 72 giáo viên trực tiếp giảng dạy tại 9 cơ sở giáo dục trung học cơ sở trên địa bàn huyện. Cỡ mẫu này đại diện cho khoảng 40,22% tổng số cán bộ giáo viên trung học cơ sở toàn huyện, đảm bảo tính đại diện cao về cơ cấu chuyên môn và đặc thù địa bàn vùng cao.

Phương pháp nghiên cứu thực tiễn sử dụng bảng hỏi điều tra kết hợp với phỏng vấn sâu cá nhân và nghiên cứu sản phẩm sư phạm. Dữ liệu định lượng được xử lý bằng các công thức toán học thống kê. Thang đo Likert 4 mức độ được áp dụng đồng nhất để đánh giá thực trạng:

  • Mức 4 (Tốt, Rất thường xuyên): Từ 3,25 đến 4,00 điểm.
  • Mức 3 (Khá, Thường xuyên): Từ 2,50 đến cận 3,25 điểm.
  • Mức 2 (Trung bình, Không thường xuyên): Từ 1,75 đến cận 2,50 điểm.
  • Mức 1 (Yếu, Chưa thực hiện): Từ 1,00 đến cận 1,75 điểm.

Lý do lựa chọn phương pháp này xuất phát từ yêu cầu phải lượng hóa chính xác khoảng cách giữa năng lực thực tế của giáo viên với chuẩn nghề nghiệp. Việc kết hợp phân tích định lượng và phỏng vấn sâu giúp nhận diện bản chất của các rào cản quản lý, tránh việc đánh giá cảm tính hoặc chạy theo thành tích.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Phân tích số liệu thực chứng từ 107 cán bộ quản lý và giáo viên tại 9 trường trung học cơ sở huyện Mường Chà cho thấy nhiều phát hiện đáng chú ý:

Thứ nhất, việc thực hiện các mục tiêu bồi dưỡng năng lực theo chuẩn nghề nghiệp đạt điểm trung bình chung là 2,93 điểm, xếp ở mức khá nhưng có sự chênh lệch lớn giữa các nhóm năng lực. Mục tiêu hoàn thiện năng lực dạy học được đánh giá cao nhất, đạt điểm trung bình 3,25 điểm, chạm ngưỡng mức tốt với 54 trên 107 người đánh giá tốt, chiếm tỷ lệ 50,47%. Tiếp theo là năng lực ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học và giáo dục đạt 3,20 điểm, với 46 người đánh giá tốt, chiếm 42,99%. Năng lực giáo dục học sinh đạt 3,15 điểm và năng lực phát triển cộng đồng đạt 3,12 điểm.

Thứ hai, năng lực ngoại ngữ và năng lực hoạt động xã hội đang là hai điểm nghẽn nghiêm trọng nhất của đội ngũ giáo viên vùng cao. Hoàn thiện năng lực sử dụng ngoại ngữ chỉ đạt điểm trung bình 2,45 điểm, nằm ở mức trung bình thấp, với chỉ 14 trên 107 người đánh giá tốt, chiếm 13,08%, trong khi có tới 12 người đánh giá yếu, chiếm 11,21%. Tương tự, năng lực hoạt động xã hội đạt mức thấp nhất trong 8 nhóm năng lực với điểm trung bình 2,36 điểm, trong đó có 19 người đánh giá yếu, chiếm 17,76% và 49 người đánh giá trung bình, chiếm 45,79%. Năng lực sử dụng tiếng dân tộc thiểu số đạt 2,90 điểm, phản ánh sự nỗ lực tiếp cận học sinh bản địa nhưng vẫn còn khoảng 28,04% giáo viên chưa sử dụng thành thạo.

Thứ ba, quy trình bồi dưỡng giáo viên bộc lộ sự thiếu đồng bộ giữa khâu lập kế hoạch và khâu khảo sát nhu cầu, đánh giá. Điểm trung bình mức độ thực hiện quy trình đạt 2,97 điểm và hiệu quả thực hiện đạt 2,93 điểm. Bước lập kế hoạch và tổ chức bồi dưỡng đạt điểm cao nhất với mức độ thực hiện 3,22 điểm và hiệu quả 3,18 điểm. Ngược lại, bước xây dựng công cụ khảo sát nhu cầu bồi dưỡng theo chuẩn chỉ đạt mức độ thực hiện 2,70 điểm và hiệu quả 2,67 điểm, xếp cuối cùng trong 7 bước quy trình. Khâu đánh giá kết quả bồi dưỡng giáo viên cũng chỉ đạt mức độ thực hiện 2,71 điểm và hiệu quả 2,65 điểm.

Thảo luận kết quả

Sự chênh lệch giữa các chỉ số phản ánh đúng thực tế công tác giáo dục tại huyện vùng cao Điện Biên. Việc năng lực dạy học và năng lực ứng dụng công nghệ thông tin đạt điểm cao (3,25 và 3,20 điểm) là kết quả trực tiếp của các đợt tập huấn trực tuyến đại trà triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 do Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với địa phương tổ chức. Giáo viên đã quen thuộc hơn với việc thiết kế kế hoạch bài dạy theo công văn hướng dẫn chuyên môn và khai thác thiết bị trình chiếu.

Tuy nhiên, nguyên nhân khiến năng lực ngoại ngữ (2,45 điểm) và năng lực hoạt động xã hội (2,36 điểm) xếp ở mức thấp bắt nguồn từ môi trường giao tiếp hạn chế tại các xã đặc biệt khó khăn như Huổi Mí, Sá Tổng, Mường Mươn. Giáo viên ít có cơ hội thực hành tiếng Anh trong đời sống thường nhật. Về hoạt động xã hội, giáo viên vùng cao thường phải kiêm nhiệm công tác bán trú, xóa mù chữ và vận động học sinh đến trường, nhưng lại thiếu các kỹ năng chuyên sâu về công tác xã hội trường học và tâm lý học đường.

Khoảng cách giữa khâu lập kế hoạch (3,22 điểm) và khâu khảo sát nhu cầu (2,70 điểm) minh chứng cho thấy công tác quản lý bồi dưỡng tại Mường Chà vẫn mang nặng tính áp đặt từ trên xuống. Việc khảo sát nhu cầu giáo viên chưa được lượng hóa bằng các công cụ đo lường tiêu chuẩn, dẫn đến tình trạng nội dung bồi dưỡng đôi khi trùng lặp hoặc chưa giải quyết trúng những khó khăn thực tế của giáo viên tại lớp học.

Kết quả nghiên cứu này có sự tương đồng sâu sắc với các kết luận của Hoàng Thị Kim Huệ năm 2017 trong khảo sát diện rộng về nhu cầu bồi dưỡng giáo viên phổ thông toàn quốc, cũng như nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Thơm năm 2020 về giáo viên trung học cơ sở khu vực miền núi phía Bắc. Cả hai nghiên cứu trước đó đều chỉ ra rằng năng lực ngoại ngữ và năng lực tự nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng luôn là điểm hạn chế cố hữu của giáo viên vùng sâu.

Dữ liệu nghiên cứu của đề tài có thể được trình bày trực quan hóa thông qua biểu đồ cột đôi so sánh trực tiếp giữa mức độ thực hiện và hiệu quả của 7 bước quy trình bồi dưỡng, kết hợp bảng phân phối tần số về tỷ lệ đánh giá tốt, khá, trung bình, yếu của 107 khách thể. Cách thể hiện này giúp các nhà quản lý thấy rõ điểm đứt gãy trong chu trình quản trị nhân sự giáo dục.

Đề xuất và khuyến nghị

Căn cứ vào kết quả khảo sát thực trạng, luận văn đề xuất 5 nhóm biện pháp quản lý trọng tâm nhằm hoàn thiện công tác bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở huyện Mường Chà:

Thứ nhất, tổ chức nâng cao nhận thức và năng lực tự bồi dưỡng cho 100% cán bộ quản lý và giáo viên. Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Mường Chà chủ trì phối hợp với ban giám hiệu các trường triển khai học tập quy định chuẩn nghề nghiệp ngay từ đầu mỗi năm học. Mục tiêu cụ thể là đạt 100% giáo viên xây dựng được kế hoạch tự học cá nhân trước tháng 9 hằng năm, chuyển hóa từ hình thức bồi dưỡng thụ động sang tự giác trau dồi chuyên môn.

Thứ hai, chuẩn hóa công cụ và quy trình khảo sát nhu cầu bồi dưỡng của giáo viên. Hiệu trưởng các trường trung học cơ sở chỉ đạo tổ chuyên môn thiết kế bộ phiếu khảo sát chi tiết hóa 15 tiêu chí của chuẩn nghề nghiệp thành các chỉ số hành vi cụ thể trước tháng 5 hằng năm. Biện pháp này hướng tới mục tiêu 100% các chuyên đề tập huấn trong năm học mới đều bám sát khoảng trống năng lực thực tế, nâng điểm đánh giá công tác khảo sát nhu cầu từ 2,70 điểm lên trên 3,30 điểm.

Thứ ba, đổi mới phương thức tổ chức bồi dưỡng thông qua sinh hoạt chuyên môn cụm trường và mô hình nghiên cứu bài học. Phòng Giáo dục và Đào tạo huyện Mường Chà phân chia 9 trường trung học cơ sở thành 3 cụm chuyên môn theo vị trí địa lý thuận lợi. Mỗi học kỳ, mỗi cụm tổ chức tối thiểu 2 buổi sinh hoạt chuyên môn chuyên sâu về phương pháp dạy học phát triển phẩm chất học sinh và ứng dụng công nghệ giáo dục, duy trì liên tục từ năm 2023 đến 2025.

Thứ tư, đảm bảo nguồn lực tài chính và hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ bồi dưỡng. Ủy ban nhân dân huyện Mường Chà và Phòng Giáo dục và Đào tạo cần ưu tiên phân bổ tối thiểu 8% đến 10% kinh phí chi thường xuyên của sự nghiệp giáo dục cho công tác tập huấn, bồi dưỡng giáo viên. Hoàn thành việc phủ sóng Internet cáp quang tốc độ cao cho 100% điểm trường chính và xây dựng kho tài nguyên bài giảng điện tử dùng chung toàn huyện trong năm 2024.

Thứ năm, hoàn thiện cơ chế kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng gắn liền với sản phẩm đầu ra thực tế. Ban giám hiệu các trường thay thế hoàn toàn hình thức kiểm tra lý thuyết bằng việc đánh giá năng lực thực tế qua kế hoạch bài dạy, hồ sơ dạy học và tiết dạy thực nghiệm. Phấn đấu đến hết năm học 2024 - 2025, tỷ lệ giáo viên trung học cơ sở huyện Mường Chà đạt chuẩn nghề nghiệp ở mức Tốt tăng từ 45% lên trên 65%, không còn giáo viên ở mức Chưa đạt.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Công trình nghiên cứu mang giá trị thực tiễn và học thuật sâu sắc, đặc biệt hữu ích cho 4 nhóm đối tượng sau:

  1. Cán bộ quản lý Phòng Giáo dục và Đào tạo các huyện miền núi: Tài liệu cung cấp quy trình 7 bước quản lý bồi dưỡng khoa học và hệ thống tiêu chí đánh giá sát thực tế. Lãnh đạo cấp phòng có thể sử dụng khung biện pháp này làm cẩm nang hướng dẫn chỉ đạo chuyên môn, xây dựng kế hoạch bồi dưỡng giáo viên hàng năm phù hợp với bối cảnh kinh tế xã hội vùng khó khăn.

  2. Hiệu trưởng, phó hiệu trưởng và tổ trưởng chuyên môn các trường trung học cơ sở: Cán bộ quản lý cấp cơ sở có thể áp dụng ngay quy trình khảo sát nhu cầu đào tạo và phương pháp sinh hoạt chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học. Đây là công cụ hữu hiệu giúp giải quyết bài toán thiếu hụt năng lực sư phạm tại chỗ mà không làm xáo trộn thời khóa biểu giảng dạy.

  3. Giáo viên trung học cơ sở đang công tác tại các vùng đồng bào dân tộc thiểu số: Luận văn là bản đối chiếu năng lực giá trị giúp giáo viên tự soi chiếu 5 tiêu chuẩn và 15 tiêu chí nghề nghiệp. Giáo viên có thể nắm bắt phương pháp tự học, tự bồi dưỡng tiếng dân tộc, ngoại ngữ và kỹ năng giáo dục học sinh cá biệt trong môi trường bán trú.

  4. Học viên cao học và nhà nghiên cứu chuyên ngành Quản lý giáo dục: Đề tài cung cấp nguồn dữ liệu khảo sát thực chứng chi tiết với 107 khách thể tại 9 trường học thực tế. Phương pháp luận, bộ công cụ khảo sát và cách tiếp cận xử lý số liệu thống kê là nguồn tư liệu tham khảo giá trị cho các nghiên cứu tiếp theo về phát triển đội ngũ nhà giáo Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

  1. Tại sao việc quản lý bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở tại Mường Chà phải gắn chặt với chuẩn nghề nghiệp theo Thông tư số 20/2018/TT-BGDĐT? Chuẩn nghề nghiệp gồm 5 tiêu chuẩn và 15 tiêu chí là thước đo quốc gia phản ánh đầy đủ phẩm chất, năng lực giáo viên đáp ứng Chương trình Giáo dục phổ thông 2018. Bồi dưỡng theo chuẩn giúp xác định chính xác điểm thiếu hụt của giáo viên vùng cao, từ đó thiết kế chương trình đúng trọng tâm, khắc phục tình trạng bồi dưỡng chung chung, hình thức.

  2. Năng lực nào của giáo viên trung học cơ sở huyện Mường Chà đang gặp nhiều khó khăn nhất theo kết quả khảo sát? Khảo sát thực tế trên 107 cá nhân cho thấy năng lực sử dụng ngoại ngữ (điểm trung bình 2,45 điểm) và năng lực hoạt động xã hội (điểm trung bình 2,36 điểm) đạt mức thấp nhất. Tỷ lệ giáo viên tự đánh giá năng lực ngoại ngữ ở mức tốt chỉ đạt 13,08%, trong khi có tới 17,76% giáo viên xếp loại yếu về kỹ năng hoạt động xã hội và công tác tư vấn tâm lý học sinh.

  3. Điểm nghẽn lớn nhất trong quy trình quản lý bồi dưỡng giáo viên hiện nay tại địa phương là gì? Điểm nghẽn lớn nhất nằm ở khâu xây dựng công cụ khảo sát nhu cầu bồi dưỡng (chỉ đạt 2,70 điểm về mức độ thực hiện và 2,67 điểm về hiệu quả) cùng khâu đánh giá sau bồi dưỡng (2,71 điểm). Việc thiếu công cụ đo lường chuyên biệt khiến công tác lập kế hoạch chưa giải quyết triệt để nhu cầu tự bồi dưỡng của từng cá nhân.

  4. Mô hình bồi dưỡng nào được đánh giá mang lại hiệu quả thiết thực nhất cho giáo viên vùng cao? Mô hình sinh hoạt chuyên môn theo cụm trường và nghiên cứu bài học tại chỗ được đánh giá hiệu quả vượt trội. Hình thức này giúp giáo viên 9 trường trung học cơ sở trên địa bàn huyện Mường Chà cùng tháo gỡ khó khăn về bài giảng tích hợp, chia sẻ kinh nghiệm giảng dạy thực tế và tiết kiệm tối đa chi phí đi lại trên địa hình đèo dốc hiểm trở.

  5. Giải pháp then chốt nào giúp nâng cao trách nhiệm tự học của giáo viên trung học cơ sở huyện Mường Chà? Giải pháp đột phá là trao quyền tự chủ chuyên môn cho tổ chuyên môn và gắn kết quả đánh giá chuẩn nghề nghiệp với chế độ thi đua, khen thưởng hàng năm. Khi việc đánh giá dựa trên minh chứng và sản phẩm sư phạm thực chất thay vì hồ sơ sổ sách, giáo viên sẽ có động lực nội tại mạnh mẽ để tự bồi dưỡng nâng chuẩn.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận về quản lý bồi dưỡng giáo viên trung học cơ sở theo chuẩn nghề nghiệp, khẳng định vai trò quyết định của 4 chức năng quản lý trong việc chuẩn hóa năng lực nhà giáo vùng cao.
  • Nghiên cứu phản ánh trung thực bức tranh thực trạng tại 9 trường trung học cơ sở huyện Mường Chà với 107 khách thể, chỉ ra sự chênh lệch rõ rệt giữa năng lực dạy học (3,25 điểm) và năng lực ngoại ngữ, xã hội (dưới 2,50 điểm).
  • Đề tài đóng góp hệ thống 6 biện pháp quản lý mang tính đột phá và khả thi, tập trung vào khảo sát nhu cầu thực chất, sinh hoạt chuyên môn cụm trường và ứng dụng công nghệ thông tin.
  • Kế hoạch triển khai đồng bộ từ năm 2023 đến 2025 đặt mục tiêu nâng trên 65% giáo viên toàn huyện đạt chuẩn nghề nghiệp loại Tốt, giảm tỷ lệ giáo viên chưa đạt chuẩn xuống dưới 3%.
  • Các cấp quản lý giáo dục tỉnh Điện Biên và các địa phương có điều kiện tương đồng cần nhanh chóng tham khảo, thể chế hóa các biện pháp của luận văn vào kế hoạch năm học nhằm tạo bước chuyển biến bền vững cho chất lượng giáo dục vùng cao.