Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG BẢO HIỂM XÃ HỘI Ở CẤP HUYỆN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của quản lý hoạt động bảo hiểm xã hội ở cấp huyện 1. Một số khái niệm cơ bản 1. Khái niệm quản lý, quản lý nhà nước * Khái niệm quản lý Quản lý là quá trình tổ chức và điều hành các hoạt động của một tổ chức, có thể là doanh nghiệp, tổ chức phi lợi nhuận, hoặc các cơ quan thuộc Chính phủ.
Quản lý không chỉ đơn thuần là việc thiết lập chiến lược mà còn bao gồm việc tối ưu hóa sự tương tác giữa các yếu tố như nhân sự, tài nguyên và quy trình, nhằm đạt được mục tiêu và nhiệm vụ của tổ chức một cách hiệu quả. Các nhà quản lý không chỉ tập trung vào việc xây dựng chiến lược mà còn đảm bảo sự hiệu quả trong việc điều phối nỗ lực của nhân viên hoặc tình nguyện viên. Thông qua việc áp dụng các phương pháp quản lý tiên tiến và sử dụng hiệu quả những nguồn lực sẵn có, quản lý được hiểu như một quá trình linh hoạt và động lực, hỗ trợ tổ chức không chỉ tồn tại mà còn phát triển trong môi trường biến động và đầy thách thức. Từ trước đến nay, trong bất kỳ thời gian nào, quản lý cũng đóng một vai trò đặc biệt quan trọng.
Quản lý ở thời điểm hiện nay đã và đang trở thành một hoạt động mang tính tất yếu diễn ra ở mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Thuật ngữ quản lý đang được hiểu và được diễn giải ở nhiều ý nghĩa khác nhau, tùy từng góc độ khoa học và những cách tiếp cận nghiên cứu. Trong thời kỳ hiện nay, nhiều nhà nghiên cứu chuyên sâu về quản lý xã hội đã đưa ra quan điểm một cách khoa học: Quản lý không chỉ đơn giản là việc tác động đến cá nhân, tổ chức hay một xã hội, mà còn bao gồm một loạt các chiến lược và phương pháp đa dạng. Mục tiêu của quản lý là điều khiển toàn bộ các quá trình xã hội, quy luật của xã hội và hành vi hoạt động của con người trong xã hội đó.
Mọi nỗ lực và chiến lược được triển khai nhằm mục đích tạo ra sự phát triển, 10 đồng thời đảm bảo rằng các hoạt động này phù hợp với những quy luật và giá trị cơ bản của xã hội. Các nhà quản lý không chỉ là công việc hướng dẫn, mà còn là sự định hình và đồng hành để đạt được những mục tiêu chiến lược và phát triển bền vững trong bối cảnh ngày nay. Có thể khái quát rằng, quản lý chính là việc người quản lý thực hiện công tác chỉ đạo đối với các hoạt động của con người trong xã hội với mục đích nhằm đạt được những kết quả nhất định theo ý muốn của người quản lý. Theo cách tiếp cận này thì khái niệm quản lý đã nói rõ mục đích quản lý và cách thức quản lý.
Trong mỗi lĩnh vực khoa học có những định nghĩa về quản lý khác nhau vì dưới góc độ riêng của mình và sự phát triển ngày càng sâu rộng hơn trong các hoạt động của đời sống. Tại giáo trình về Quản lý Nhà nước, định nghĩa về quản lý được nhắc đến cụ thể như sau: Quản lý chính là sự tác động liên tục có kế hoạch, mục đích của các chủ thể quản lý đối với các đối tượng quản lý. Theo quan điểm của C. Mác, mỗi hoạt động lao động xã hội, bất kể là lao động cá nhân hay lao động chung trên quy mô lớn, đều yêu cầu sự quản lý, có thể là ở mức độ nhiều hay ít.
Mục tiêu của quản lý là tạo ra sự phối hợp hiệu quả giữa các hoạt động cá nhân và thực hiện chức năng chung, xuất phát từ sự hoạt động toàn diện của hệ thống sản xuất. Quan điểm này làm nổi bật sự khác biệt giữa việc tự quản lý của cá nhân và cần thiết của quản lý khi tham gia vào một tổ chức có quy mô lớn. Mác nhấn mạnh vào việc sự đồng bộ và phối hợp trong sản xuất không chỉ xuất phát từ quản lý cá nhân mà còn đòi hỏi sự quản lý toàn diện, đặc biệt khi tham gia vào các tổ chức có quy mô lớn, nơi cần có sự tổ chức và điều phối để đảm bảo hiệu suất và mục tiêu chung của hệ thống sản xuất.Mác đã tiếp cận khái niệm "quản lý" không chỉ từ góc độ của người quản lý mà còn từ góc độ mục đích của quản lý. Theo ông, mục tiêu của quản lý là phối hợp các hoạt động lao động cá nhân để đạt được sự thống nhất cao trong toàn bộ quá trình sản xuất.
Như vậy, có thể khái quát khái niệm về quản lý đó chính là sự tác động có hệ thống, liên tục và có tổ chức của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý nhằm 11 mục đích đạt được các mục tiêu, kế hoạch mà đối tượng quản lý đặt ra, việc tác động của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý theo phương pháp nào thì còn tùy thuộc vào các lĩnh vực khác nhau cũng như cách tiếp cận của người nghiên cứu. * Khái niệm quản lý nhà nước Quản lý nhà nước, theo quan điểm chuyên gia, là một loạt các hoạt động thực thi quyền lực của Nhà nước, được tiến hành bởi các cơ quan nhà nước, bao gồm cả cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp. Mục tiêu chính của quản lý nhà nước là xây dựng và duy trì một trật tự xã hội ổn định, phát triển theo hướng những mục tiêu và kế hoạch mà giai cấp cầm quyền đã đặt ra. Quản lý nhà nước không chỉ là quá trình thực thi quyền lực mà còn liên quan đến việc định hình và đảm bảo sự tuân thủ của các quy định pháp luật.
Các cơ quan nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng hệ thống pháp luật, đồng thời thực hiện các biện pháp nhằm hướng dẫn và điều chỉnh hành vi của cộng đồng, nhằm đạt được mục tiêu chung của toàn bộ xã hội. Như vậy, có thể hiểu quản lý nhà nước theo cách đơn giản như sau: - Quản lý nhà nước là hoạt động của các cơ quan nhà nước nhằm thực thi quyền lực nhà nước, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục tiêu đã đề ra. - Quản lý nhà nước là một hoạt động mang tính quyền lực, được thực hiện bởi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, được đảm bảo bằng sức mạnh cưỡng chế của nhà nước. - Quản lý nhà nước chính là sự điều hành, quản lý nhằm thi hành quyền lực nhà nước, tất cả các cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp của đất nước (gọi chung là cơ quan quyền lực nhà nước) đều tiến hành các hoạt động thực thi quyền lực nhà nước để tổ chức, điều chỉnh, quản lý xã hội và hành vi của tất cả người dân trên đất nước đó.
Trong đề tài luận văn này, quản lý nhà nước được hiểu là bao gồm toàn bộ các hoạt động từ ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, những văn bản mang tính quy định như thông tư, nghị định… nhằm việc chỉ đạo trực tiếp hoạt động của các đối tượng bị quản lý và những vấn đề tư pháp đối với đối tượng quản lý cần thiết của Nhà nước. 12 Hoạt động quản lý nhà nước được triển khai thông qua sự phối hợp của các cơ quan hành chính nhà nước, tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức đoàn thể quần chúng nhân dân được ủy quyền và trao quyền bởi các cơ quan hành chính nhà nước để thực hiện một số nhiệm vụ nhất định của Nhà nước theo quy định của pháp luật. Có thể nói, hoạt động quản lý nhà nước không chỉ giới hạn trong phạm vi của các cơ quan hành chính, mà còn liên quan đến sự hỗ trợ từ các tổ chức chính trị - xã hội và các tổ chức đoàn thể có liên quan, giúp đảm bảo việc thực thi nhiệm vụ Nhà nước giao một cách hiệu quả. Việc trao quyền được đặc biệt nhấn mạnh để bảo đảm tính hợp pháp, minh bạch trong quá trình thực hiện các chức năng và nhiệm vụ quản lý.
Quản lý nhà nước có thể được định nghĩa là một chuỗi các hoạt động thể hiện quyền lực của nhà nước và sử dụng quyền lực này theo quy định của pháp luật, với mục đích chính là điều chỉnh các quan hệ xã hội và hành vi của toàn bộ cộng đồng trên lãnh thổ quốc gia. Quản lý nhà nước là những hoạt động căn bản của Nhà nước trong việc quản lý xã hội và được coi là một chức năng đặc biệt của Nhà nước nhằm mục đích duy trì và phát triển các mối quan hệ xã hội và trật tự an toàn xã hội để thực hiện những chức năng của Nhà nước trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Khái niệm bảo hiểm xã hội * Khái niệm bảo hiểm xã hội Trong mọi phương diện của cuộc sống xã hội, con người liên tục phải đối mặt với ảnh hưởng của các quy luật khách quan, điều kiện tự nhiên và tình hình kinh tế xã hội. Mặc dù có những tác động có thể được dự đoán trước bởi con người, tuy nhiên, cũng tồn tại các yếu tố ngẫu nhiên mà chúng ta không thể hoàn toàn dự đoán hay kiểm soát được.
Đó là những bất trắc, rủi ro có thể xảy ra bất cứ đâu và bất cứ khi nào, nó có thể gây tác hại rất to lớn đối với sinh mạng hoặc điều kiện sinh sống của con người chúng ta và cũng có thể làm mất đi những của cải do con người làm ra, chẳng hạn như thiên tai, bão lụt, tai nạn, ốm đau, thai sản, tuổi già… 13 Chính vì vậy, xã hội cần phải có những giải pháp, những phương án để nhằm mục đích đảm bảo cho con người vượt qua được khó khăn, ổn định cuộc sống. Chính vì vậy, việc ra đời của BHXH chính là một trong những loại hình bảo hiểm mà đối tượng của nó là thu nhập của những NLĐ. BHXH theo định nghĩa trong Đại từ điển kinh tế thị trường của Việt Nam, là hệ thống đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập của NLĐ khi họ đối mặt với các tình huống như tai nạn, biến cố trong cuộc sống làm giảm hoặc mất khả năng lao động như ốm đau, bệnh nghề nghiệp, tai nạn lao động, tử vong, thai sản, nghỉ hưu, mất việc. Hệ thống này dựa trên sự bảo đảm và quản lý của quỹ tài chính được Nhà nước bảo đảm theo quy định của pháp luật mà các bên tham gia BHXH đóng góp vào.