Chương 1 KHÁI LƯỢC VỀ PHẬT GIÁO VÀ TÌNH HÌNH PHẬT GIÁO VIỆT NAM TRƯỚC TRIỀU LÝ 1. Khái lược về Phật giáo 1. Sự xuất hiện của Phật giáo Trong lịch sử thế giới, Ấn Độ là một trong những quốc gia có nền văn minh sớm nhất của nhân loại. Trước khi Đức Phật xuất thế, vùng đất phía bắc Ấn Độ ngày nay, bao gồm cả một phần lãnh thổ của Pakistan, Nepal, Bangladesh đã phát triển tới một trình độ tương đối cao cả về kinh tế, chính trị và văn hóa.
Vào khoảng thời gian 3000 – 3500 năm cách ngày nay, một nhánh thuộc tộc người Aryan đã di cư đến vùng sông Ấn, đem theo truyền thống văn hóa, khi ấy đã phát triển triển tương đối cao của họ, trong đó có hệ thống ngôn ngữ khá hoàn chỉnh, sau này trở thành ngôn ngữ chính thức và phổ biến là tiếng Sanskrit (tiếng Phạn) và những nghi lễ tôn giáo hiến tế các vị thần tượng trưng cho các thế lực của thiên nhiên như Indra, Agni và Varuma. Đặc biệt, người Aryan đã đem đến vùng này bộ kinh Veda (Vệ Đà hay Phệ Đà). Lâu đời nhất là tập Rig Veda (1. Đặc điểm của Kinh Veda là hướng con người đến những giá trị chân, thiện, mỹ và là bước chuyển tiếp từ những nghi lễ mang tính hình thức vào những trải nghiệm nội tâm.
Kinh Veda có quan hệ rất mật thiết với tư tưởng của Đức Phật sau này. Cùng với quá trình phát triển nền văn minh, sau bộ kinh điển Rig Veda (Lê câu Phệ đà), cư dân vùng sông Ấn-Hằng tiếp tục sáng tạo nên các bộ kinh điển khác như Bràhmana (Phạm thư) và Upanishad (Áo nghĩa thư). Đây là những bộ kinh điển quan trọng của Bà La Môn giáo, nó không chỉ hàm chứa những tư tưởng triết học về nhân sinh quan và thế giới quan, mà nó còn ảnh hưởng rất lớn tới vấn đề chính trị, tôn giáo. Thời kỳ trước khi Đức Phật xuất thế, guồng máy chính trị của Ấn Độ là thể chế quân chủ, nhưng cũng chính vì sự phân biệt đẳng cấp ngày một rõ rệt, khiến 17 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com cho xã hội của thể chế cộng hòa ngày một suy tàn và thay vào đấy là thể chế quân chủ chuyên chế.
Tuy rằng Ấn Độ là một quốc gia có nền văn minh sớm, nhưng cũng lại là đất nước mà sự phân biệt đẳng cấp vô cùng nặng nề. Cho đến ngày nay, những di tồn của sự phân biệt đẳng cấp vẫn còn tồn tại ít nhiều trong xã hội Ấn Độ. Thời kỳ cổ đại, xã hội Ấn Độ bị chia thành 4 đẳng cấp (caste) đó là: đẳng cấp Bà La Môn (Brāhmaṇa), đây là đẳng cấp mà mọi người phải kính nể và tôn trọng nhất bao gồm các tu sĩ, triết gia, học giả, chuyên thực hiện các nghi thức tế lễ và ban bố các giới luật. Đẳng cấp vua chúa quý tộc (Kshastriya), đây là đẳng cấp cai trị, nắm quyền bính trong xã hội, họ tự cho có quyền sinh quyền sát với bất cứ ai.
Đẳng cấp thương nhân và thợ thủ công nghiệp (Vaisya), đây là đẳng cấp chuyên làm những việc giao dịch buôn bán và làm những nghề thủ công hay nông nghiệp nhỏ. Đẳng cấp nô lệ (Soudra) thấp kém nhất trong xã hội, họ hầu như không có một quyền lợi gì trong xã hội, suốt đời phải làm thuê làm mướn. Đến thời Đức Phật xuất thế, tại Ấn Độ loạn lạc liên miên làm cho xã hội bị xáo trộn, ngay cả đẳng cấp Bà La Môn cũng bị lay chuyển tới cả gốc rễ, do đó lúc này đã hình thành lên rất nhiều trường phái triết học khác nhau như: Kỳ Na giáo (Jain), Lục Sư ngoại đạo (Sat- Tirthakarah) vv… Các học thuyết này chỉ hình thành một thời gian ngắn rồi tuyệt diệt. Ngoài Lục Sư ngoại đạo ra, còn có sáu trường phái triết học khác.
Những trường phái triết học này, có trường phái tích cực, cũng có trường phái mang tư tưởng tiêu cực, về quan điểm nhân sinh quan và thế giới quan, có trường phái lấy duy tâm làm cơ bản, nhưng cũng có những trường phái lấy duy vật làm nền tảng cho học thuyết của mình. Và có thể nói, tất cả nền văn hóa, cũng như các trường phái tư tưởng và triết học này, ít nhiều có ảnh hưởng tới quá trình hình thành và phát triển của Phật giáo. Đấng giáo chủ của đạo Phật là Đức Phật tổ Siddhārtha Gautama (Tất Đạt Đa Cồ Đàm1. Ngài sinh trưởng trong một gia đình hoàng tộc thuộc xứ Sakya (Thích 1 Về thân thế của Đức Phật có rất nhiều quan điểm khác nhau, từ dòng tộc đến ngày tháng năm sinh của Ngài.
Căn cứ vào tài liệu của Hòa Thượng Thích Thánh Nghiêm, thì có khoảng 70 thuyết khác 18 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Sau này được xưng tụng là Sakya Mouni (Thích Ca Mâu Ni / Người thông tuệ xứ Thích Ca). Ngài là một nhân vật lịch sử, năm sinh của Ngài tính theo Phật lịch thì đến nay đã 2556 năm. Khi tròn 19 tuổi Ngài xuất gia, 30 tuổi thành đạo, trụ thế thuyết pháp suốt trong 49 năm.
Năm 80 tuổi Ngài nhập Niết bàn. Vốn xuất thân từ dòng dõi hoàng tộc, Ngài là con vua Suddhodana (Tịnh Phạn) và hoàng hậu Maya (Ma Da), trị vì ở thành Kapilavastu (Ca Tỳ La Vệ), nay thuộc Nepal. Vì hoàng hậu hiếm muộn, chỉ sinh một con nên Ngài đã được phong làm Thái tử khi vừa mới chào đời. Không may, hoàng hậu qua đời sau khi sinh nở mới được bẩy ngày.
Thái tử đã được dì ruột là Ma Ha Ba Xà Ba Đề nuôi dưỡng. Hiện nay vẫn còn cây trụ đá đã được vua A Dục dựng lên để lưu dấu tích và kỷ niệm nơi Thái tử đản sinh và tại thủ đô Kathmandu của Nepal hiện vẫn còn cả một khu mang dòng họ Gautama (Cồ Đàm). Tất cả những điều đó cho thấy Đức Phật là một nhân vật lịch sử, chứ không phải là một nhân vật huyền thoại. Có thể nói, sự vĩ đại của Thái tử đã bắt đầu từ bước chân đầu tiên khi rời khỏi cung điện.
Danh vọng cũng như tất cả cuộc sống của một bậc vương giả, Thái tử đã vứt bỏ như một chiếc dép rách, không một chút luyến tiếc. Phàm rằng con người thường có một thói quen dễ thực hiện đó là, từ một cuộc sống nghèo khổ mà bước tới một cuộc sống sung sướng thì dễ hơn là từ bỏ một cuộc sống sung sướng để dấn thân vào cuộc sống khổ hạnh đầy thiếu thốn. Thái tử đã quyết chí bước trên con đường tìm kiếm phương pháp giải thoát đau khổ cho chúng sinh, chính nhờ có trái tim từ bi mãnh liệt tìm cầu chân lý đó, mà những cám dỗ thế gian cũng như khó khăn gian khổ Thái tử đều có thể vượt qua. Ngài đã sống bằng lý tưởng của mình, nhau về ngày tháng năm sinh của Đức Phật, tất nhiên có rất nhiều lý do, chính vì thế, Đại hội Phật giáo thế giới lần thứ 3 đã thống nhất lấy năm 554 trước công nguyên là năm Phật nhập Niết bàn.
Đây là kết quả suy luận từ niên đại ghi trên văn bia của vua Ca la Tì la (Siri khàravela Mala – Meghavàhana ) của nước Kiệt Lăng Già (Kalinga) ở miền nam Ấn Độ. Về dòng tộc của Đức Phật các học giả đều thống nhất dòng họ Thích Ca thuộc đẳng cấp Sát- đế - lợi (Kshastriya), dòng dõi vua Cam Giá phát xuất từ họ Cồ Đàm mà ra, nhưng về chủng tộc lại có nhiều ý kiến khác nhau, cho chủng tộc của dòng tộc Thích Ca thuộc người Aryan da trắng, cũng có thuyết nói là tộc người Mông Cổ da vàng. Nhưng Hòa thượng Thích Thánh Nghiêm dựa vào tài liệu Tây vực kí, thì thời Đức Thế Tôn chưa có tộc da vàng nào xâm nhập vào Ấn Độ, phải tới vương triều Quí Xương mới có dân tộc Đại Nguyệt thị vào đất Ấn Độ. Do vậy, tộc Thích Ca không thuộc huyết thống Aryan thuần nhất.
19 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đó là sống cho nhân loại và vì hạnh phúc của nhân loại. Từ tấm gương sống cuộc sống mộc mạc nhưng thanh cao của Đức Phật, đã khiến một thi nhân Hồi giáo Abdul Atahiya phải có một nhận xét dưới tiêu đề “Người cao quí nhất của nhân loại”, ông viết: “Nếu bạn muốn thấy người cao quí nhất của loài người, bạn hãy nhìn vị hoàng đế trong y phục một người ăn xin; chính là Ngài đó, siêu phàm thánh tính của Ngài thật vĩ đại giữa con người ” [44, tr. Căn cứ vào những tài liệu lịch sử cuộc đời Đức Phật, sau những ngày tháng tầm thầy học đạo, từ nhà đại học giả trứ danh của Ấn Độ đương thời là Ra La Ca Lan và Uất Đà Ka La Ma Tử, mà vẫn chưa đạt được chân lý, cuối cùng Ngài quyết định vào rừng tu khổ hạnh sáu năm. Sáu năm là một cực hình với người bình thường, bởi mỗi ngày Ngài chỉ ăn có một bữa lúa hoang và vừng dại, uống nước suối.
Tuy khổ hạnh là vậy, nhưng vẫn chưa tìm ra được chân lý. Cuối cùng, Ngài đã quyết định bỏ lối tu khổ hạnh này và thực hiện phương pháp dưỡng thân để tu hành theo phương pháp trung dung, đó là: không nên quá tham đắm vào vật chất, nhưng cũng không nên quá ép xác, vì cả hai đều không phù hợp cho con đường tìm cầu chân lý, đây chính là sự khơi nguồn của tư tưởng “Trung đạo” cơ bản trong hệ thống giáo lý Phật giáo sau này. Sau khi quyết định như vậy, Ngài đã xuống dòng sông Ni Liên Thiền tắm gội, rồi tới dưới gốc cây Bồ đề thiền định suốt 49 ngày đêm. Ngài đã dùng toàn bộ tâm lực vào việc quán chiếu, soi xét lại tất cả quá trình tu hành của mình cũng như áp dụng phương pháp quán thập nhị nhân duyên và duyên khởi, rồi đến đêm thứ 48 Ngài đạt được giác ngộ, hiểu rõ chân tướng của vạn pháp, tất cả đều vô ngã, như trong kinh Trung A hàm đã thuật lại cảm nhận của Ngài: “Nảy sinh trí tuệ, nảy sinh nhận thức, định được đạo, đánh giá được pháp, cuộc đời đã hết, phạm hạnh đã thành, điều cần làm đã làm xong, không còn trở lại kiếp người, biết được như chân thật ”.
Từ đây, với tấm lòng từ bi và trí tuệ của mình, Ngài đã du hành khắp nơi để truyền bá chân lý mà Ngài đã chứng ngộ được. Chân lý mà Ngài chứng ngộ đó, nó siêu vượt không gian và thời gian, hay nói một cách khác, chân lý này phù hợp với 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.