Luận văn thạc sĩ: Quan hệ bang giao giữa Đại Việt và nhà Thanh dưới thời Tây Sơn (1789-1802)

Luận văn thạc sĩ phân tích ussh quan hệ bang giao giữa đại việt với nhà thanh dưới thời tây sơn 1789 1802, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải pháp khả thi cho thực

Chuyên ngành

Lịch sử

Tác giả

Lê Thị Quỳnh

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2017

128
10
0

Phí lưu trữ

35 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề

3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5. Nguồn tư liệu và phương pháp nghiên cứu

6. Đóng góp của luận văn

7. Bố cục của luận văn

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ THIẾT LẬP QUAN HỆ BANG GIAO GIỮA NHÀ TÂY SƠN VỚI NHÀ THANH

1.1. Bối cảnh Đại Việt ở nửa cuối thế kỷ XVIII và nhu cầu thiết lập quan hệ ngoại giao với nhà Thanh

1.2. Xã hội Đại Việt nửa cuối thế kỷ XVIII

1.3. Sự khủng hoảng của chính quyền phong kiến Đàng Ngoài và Đàng Trong

1.4. Vua Quang Trung khôi phục và xây dựng đất nước

1.5. Nhu cầu thiết lập quan hệ ngoại giao với nhà Thanh

1.6. Tránh một cuộc chiến tranh đổ máu tiếp theo giữa hai nước

1.7. Tranh thủ hòa bình, phát triển kinh tế đất nước

1.8. Giữ vững chủ quyền dân tộc

1.9. Bối cảnh xã hội Trung Quốc nửa cuối thế kỷ XVIII và lợi ích của nhà Thanh trong việc thiết lập quan hệ ngoại giao với nhà Tây Sơn

1.10. Bối cảnh xã hội Trung Quốc nửa cuối thế kỷ XVIII

1.11. Vương triều nhà Thanh phát triển tới đỉnh cao dưới thời vua Càn Long

1.12. Những vấn đề khó khăn nội tại của vương triều Càn Long

1.13. Lợi ích của nhà Thanh trong việc thiết lập quan hệ ngoại giao với nhà Tây Sơn

1.14. Tránh được những thất bại kế tiếp trên chiến trận

1.15. Giữ được danh dự nước lớn

1.16. Truyền thống quan hệ bang giao giữa hai nước trước thời Tây Sơn

1.17. Tư tưởng truyền thống trong quan niệm ngoại giao của Đại Việt

1.18. Tư tưởng ngoại giao truyền thống của Trung Quốc

2. CHƯƠNG 2: QUAN HỆ BANG GIAO GIỮA NHÀ TÂY SƠN VỚI NHÀ THANH (1789-1802)

2.1. Phong trào nông dân Tây Sơn và sự xác lập quan hệ ngoại giao với nhà Thanh

2.1.1. Phong trào nông dân Tây Sơn

2.1.2. Khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ

2.1.3. Tây Sơn lật đổ chính quyền họ Nguyễn và đánh tan quân xâm lược Xiêm

2.1.4. Tây Sơn lật đổ chính quyền Lê - Trịnh

2.1.5. Tây Sơn đánh tan quân Thanh

2.2. Sự xác lập quan hệ ngoại giao với nhà Thanh

2.3. Thái độ của nhà Thanh đối với phong trào khởi nghĩa nông dân Tây Sơn

2.4. Hoạt động bang giao giữa nhà Tây Sơn với nhà Thanh (1789 – 1802)

2.4.1. Quan hệ sắc phong, triều cống

2.4.2. Đón nhận sắc phong

2.4.3. Hoạt động thương mại triều cống

2.5. Vấn đề biên giới, lãnh thổ

3. CHƯƠNG 3: NHẬN XÉT, ĐÁNH GIÁ VỀ QUAN HỆ BANG GIAO GIỮA NHÀ TÂY SƠN VỚI NHÀ THANH

3.1. Quan hệ sắc phong, triều cống – nền tảng của quan hệ bang giao giữa nhà Tây Sơn với nhà Thanh

3.2. Những quy định về nghi lễ thể hiện một cách chặt chẽ trong quan hệ bang giao giữa hai nước

3.3. Thể hiện tính mềm dẻo, khéo léo

3.4. Thể hiện tính chủ động, cương quyết trong vấn đề đối ngoại

3.5. Bảo vệ vững chắc độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về quan hệ ngoại giao giữa Đại Việt và nhà Thanh 1789 1802

Quan hệ ngoại giao giữa Đại Việtnhà Thanh trong giai đoạn 1789-1802 là một phần quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Thời kỳ này chứng kiến sự chuyển mình mạnh mẽ của Đại Việt dưới triều đại Tây Sơn. Mối quan hệ này không chỉ phản ánh sự tương tác chính trị mà còn là sự giao thoa văn hóa và kinh tế giữa hai quốc gia. Việc thiết lập quan hệ ngoại giao trong bối cảnh lịch sử phức tạp đã tạo ra những cơ hội và thách thức cho cả hai bên.

1.1. Bối cảnh lịch sử và xã hội của Đại Việt và nhà Thanh

Cuối thế kỷ XVIII, Đại Việt đang trải qua những biến động lớn về chính trị và xã hội. Sự khủng hoảng của chính quyền phong kiến đã tạo điều kiện cho phong trào Tây Sơn nổi dậy. Trong khi đó, nhà Thanh cũng đang ở đỉnh cao quyền lực nhưng phải đối mặt với nhiều vấn đề nội tại. Sự cần thiết phải thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai bên xuất phát từ nhu cầu ổn định và phát triển.

1.2. Mục tiêu và lợi ích của việc thiết lập quan hệ ngoại giao

Việc thiết lập quan hệ ngoại giao giữa Đại Việtnhà Thanh không chỉ nhằm tránh xung đột mà còn để tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế và văn hóa. Đại Việt mong muốn duy trì độc lập và chủ quyền, trong khi nhà Thanh tìm kiếm sự công nhận và củng cố vị thế của mình trong khu vực.

II. Những thách thức trong quan hệ ngoại giao giữa Đại Việt và nhà Thanh

Mặc dù có nhiều lợi ích từ việc thiết lập quan hệ ngoại giao, nhưng Đại Việtnhà Thanh cũng phải đối mặt với nhiều thách thức. Những vấn đề này không chỉ liên quan đến chính trị mà còn ảnh hưởng đến văn hóa và kinh tế của cả hai quốc gia.

2.1. Xung đột quân sự và chính trị

Trong giai đoạn này, Đại Việt đã phải đối mặt với nhiều cuộc xung đột quân sự, đặc biệt là với quân Thanh. Những cuộc chiến tranh này không chỉ gây thiệt hại về người và của mà còn làm gia tăng căng thẳng trong quan hệ ngoại giao.

2.2. Vấn đề công nhận và sắc phong

Một trong những thách thức lớn trong quan hệ ngoại giao là vấn đề công nhận Đại Việt như một quốc gia độc lập. Nhà Thanh yêu cầu Đại Việt phải chấp nhận sắc phong, điều này gây ra nhiều tranh cãi và khó khăn trong việc thiết lập mối quan hệ chính thức.

III. Phương pháp giải quyết quan hệ ngoại giao giữa Đại Việt và nhà Thanh

Để vượt qua những thách thức trong quan hệ ngoại giao, Đại Việt đã áp dụng nhiều phương pháp linh hoạt và khéo léo. Những chiến lược này không chỉ giúp duy trì hòa bình mà còn tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế và văn hóa.

3.1. Chính sách ngoại giao mềm dẻo

Chính quyền Tây Sơn đã áp dụng chính sách ngoại giao mềm dẻo, khéo léo trong việc thương thuyết với nhà Thanh. Điều này giúp giảm thiểu xung đột và tạo ra không gian cho sự hợp tác.

3.2. Tăng cường giao lưu văn hóa và thương mại

Giao lưu văn hóa và thương mại giữa Đại Việtnhà Thanh đã được thúc đẩy mạnh mẽ. Những hoạt động này không chỉ giúp tăng cường mối quan hệ mà còn tạo ra lợi ích kinh tế cho cả hai bên.

IV. Kết quả và ứng dụng thực tiễn từ quan hệ ngoại giao giữa Đại Việt và nhà Thanh

Kết quả của quan hệ ngoại giao giữa Đại Việtnhà Thanh trong giai đoạn này đã để lại nhiều bài học quý giá cho các thế hệ sau. Những thành công và thất bại trong quan hệ này đã góp phần định hình chính sách đối ngoại của Việt Nam trong các thời kỳ tiếp theo.

4.1. Những thành tựu đạt được

Mối quan hệ ngoại giao đã giúp Đại Việt duy trì được độc lập và chủ quyền, đồng thời tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế và văn hóa. Những thành tựu này đã góp phần củng cố vị thế của Đại Việt trong khu vực.

4.2. Bài học cho chính sách đối ngoại hiện đại

Những kinh nghiệm từ quan hệ ngoại giao giữa Đại Việtnhà Thanh có thể được áp dụng trong chính sách đối ngoại hiện đại. Việc duy trì hòa bình và hợp tác với các quốc gia láng giềng là điều cần thiết để bảo vệ lợi ích quốc gia.

V. Kết luận về quan hệ ngoại giao giữa Đại Việt và nhà Thanh

Quan hệ ngoại giao giữa Đại Việtnhà Thanh trong giai đoạn 1789-1802 là một phần quan trọng trong lịch sử Việt Nam. Những thăng trầm trong mối quan hệ này đã phản ánh sự phức tạp của chính trị và văn hóa trong khu vực. Việc nghiên cứu quan hệ này không chỉ giúp hiểu rõ hơn về lịch sử mà còn cung cấp những bài học quý giá cho chính sách đối ngoại hiện đại.

5.1. Tương lai của quan hệ Việt Trung

Mối quan hệ giữa Việt NamTrung Quốc hiện nay vẫn tiếp tục phát triển. Những bài học từ quá khứ có thể giúp hai nước xây dựng một mối quan hệ hòa bình và bền vững hơn trong tương lai.

5.2. Đánh giá tổng quan về quan hệ ngoại giao

Tổng quan về quan hệ ngoại giao giữa Đại Việtnhà Thanh cho thấy sự cần thiết của việc duy trì hòa bình và hợp tác trong bối cảnh lịch sử phức tạp. Những thành công và thất bại trong quá khứ sẽ là nền tảng cho những quyết định trong tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

19/07/2025
Luận văn thạc sĩ ussh quan hệ bang giao giữa đại việt với nhà thanh dưới thời tây sơn 1789 1802

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn đƣợc chia làm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Cơ sở thiết lập quan hệ bang giao giữa nhà Tây Sơn với nhà Thanh Trong chƣơng này, tác giả nghiên cứu những lợi ích của nhà Tây Sơn và nhà Thanh khi khôi phục quan hệ hòa hiếu sau chiến tranh, từ đó cho thấy việc thiết lập quan hệ bang giao giữa Tây Sơn với nhà Thanh là xuất phát từ mong muốn hai bên. Chƣơng 2: Quan hệ bang giao giữa nhà Tây Sơn với nhà Thanh (1789-1802) Ở chƣơng thứ hai này, tác giả tập trung nghiên cứu quá trình thiết lập quan hệ bang giao giữa Tây Sơn và nhà Thanh cũng nhƣ quan hệ bang giao giữa hai nƣớc trong các vấn đề quan trọng nhƣ: sắc phong; triều cống; biên giới, lãnh thổ; thƣơng mại; văn hóa…từ năm 1789 đến năm 1802. Chƣơng 3: Nhận xét, đánh giá về quan hệ bang giao giữa nhà Tây Sơn với nhà Thanh Nội dung ở chƣơng thứ ba này, tác giả sẽ trình bày một số đặc điểm nổi bật trong quan hệ bang giao giữa nhà Tây Sơn với nhà Thanh nhƣ: quan hệ “sắc phong”, “triều cống” là nền tảng quan hệ hai nƣớc; những quy định nghi lễ chặt chẽ; thể hiện tính mềm dẻo, khéo léo; thể hiện tính chủ động, cƣơng quyết trong vấn đề đối ngoại; bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền lãnh thổ. 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: CƠ SỞ THIẾT LẬP QUAN HỆ BANG GIAO GIỮA NHÀ TÂY SƠN VỚI NHÀ THANH 1.

Bối cảnh Đại Việt ở nửa cuối thế kỷ XVIII và nhu cầu thiết lập quan hệ ngoại giao với nhà Thanh 1. Xã hội Đại Việt nửa cuối thế kỷ XVIII * Sự khủng hoảng của chính quyền phong kiến Đàng Ngoài và Đàng Trong Bƣớc sang nửa cuối thế kỷ XVIII, chính quyền phong kiến Đàng Ngoài, Đàng Trong ngày càng trở nên suy yếu và khủng hoảng trầm trọng. Ở Đàng Ngoài, chúa Trịnh rất lo lắng trƣớc tình cảnh ngổn ngang của đất nƣớc, khi mà sản xuất nông nghiệp đình trệ, công thƣơng nghiệp không phát triển, ngƣời dân thì đói khổ. Vì vậy, chúa Trịnh đã ban hành nhiều chính sách để khôi phục kinh tế đất nƣớc, nhất là trong lĩnh vực nông nghiệp.

Nhà nƣớc yêu cầu thành lập “sở đồn điền” để đi khai hoang, khuyến khích nông dân khôi phục ruộng đất đã bị hoang hóa nhiều năm. Theo đó “xã nào số đinh hao hụt.ruộng bỏ hoang nhiều không ai nhận cày thì cho phép chiêu mộ người cày.đợi 3 năm thành ruộng sẽ ghi vào sổ thuế.Nếu xã nào nhiều ruộng quá, cày không hết mà có người tình nguyện bỏ vốn ra khai khẩn thì cũng cho phép. 409] Nhờ chính sách trên mà tình hình xã hội Đàng Ngoài bắt đầu có sự cải thiện, nhiều làng xóm điêu tàn trƣớc đây đã nhanh chóng đƣợc hồi phục. Tuy nhiên, càng về sau chính quyền họ Trịnh càng tỏ ra yếu kém trong việc quản lý đất nƣớc.

Bằng chứng là tình trạng chiếm đất của giới quyền quý, bọn cƣờng hào ức hiếp dân chúng diễn ra ngày càng phổ biến khiến ngƣời dân lao động rơi vào cảnh vô cùng khó khăn. Nhà sử học Phan Huy Chú đã nhận xét tình trạng ruộng đất ở Đàng Ngoài là “bỏ mặc cho dân xâm chiếm lẫn nhau”. Do đó, kết quả là mất mùa, đói kém lại xảy ra: “Năm 1759: Thanh Hóa, Nghệ An bị nạn đói. Năm 1766 các hạt Kinh Bắc vỡ đê, nhà cửa, ruộng nương bị ngập lụt.

Năm 1768 Nghệ An và các trấn Kinh Bắc, Sơn Tây, Sơn Nam, giá gạo cao vọt, nhân dân đói khổ, 100 đồng tiền không đủ một bữa no. 410] Trong tình cảnh khốn khó nhƣ vậy, nông dân nghèo chỉ còn cách duy nhất là nổi dậy đấu tranh. Năm 1778 là cuộc khởi nghĩa của Thục Toại ở các tỉnh đồng bằng ven biển Bắc bộ. Năm 1785, cuộc khởi nghĩa do Thiêm Liêm lãnh 10 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đạo nổ ra ở An Quảng 1 thƣờng xuyên đánh phá ở các vùng ven biển, gây thiệt hại lớn cho quân triều đình.

Bên cạnh đó, nội bộ chính quyền Lê – Trịnh ngày càng có nhiều mâu thuẫn, các phe phái tranh giành quyền lực. Năm 1767, sau khi Trịnh Doanh chết, Trịnh Sâm lên thay. Nhƣng Trịnh Sâm là một ngƣời chuyên quyền, tàn bạo, vì say mê Đặng Thị Huệ mà bỏ bê triều chính. Chính vì vậy, Trịnh Sâm đã phế truất thái tử Trịnh Khải để phong con trai Đặng Thị Huệ là Trịnh Cán làm thái tử mặc dù lúc đó Trịnh Cán còn rất nhỏ tuổi.

Biến loạn xảy ra khi Trịnh Sâm chết, phe phái của Trịnh Khải nổi lên đánh giết nhóm Hoàng Đình Bảo – Đặng Thị Huệ. Nhƣng cũng từ đó xã hội lại càng trở nên rối ren, hỗn loạn mà nhân dân gọi là “loạn kiêu binh”. Thế lực Quân Tam phủ2, những ngƣời đã giúp Trịnh Khải nay trở nên hung hăng, cậy quyền, cậy thế. “Rồi bọn quân lính càng thừa thế hoành hành.

Phàm các quan văn võ hễ ai thuộc bè đảng của Thị Huệ và quận Huy, cùng những người dự vào việc tố giác vụ án năm Canh Tý (việc Tông mưu cướp ngôi khi trước), những viên quan hầu mọi ngày có tính nghiệt ngã mà quân lính vẫn ghét, lúc ấy đều bị phá nhà hàng loạt và bị lùng bắt đem giết chết. Luôn trong mấy ngày, họ làm náo động cả kinh thành. Tông phải hạ chỉ ngăn cấm mà họ vẫn không thôi. 28] Năm 1774, nhân cuộc khởi nghĩa của nông dân Tây Sơn nổi dậy ở Đàng Trong, chính quyền họ Trịnh đã mang quân vào chiếm đƣợc vùng đất Thuận Hóa của họ Nguyễn nhƣng vẫn không thể ngăn cản sự suy sụp ngày càng nhanh cả về chính trị, kinh tế, xã hội Đàng Ngoài.

Ở Đàng Trong, từ nửa đầu thế kỷ XVIII, chế độ phong kiến dƣới thống trị của họ Nguyễn khá ổn định. Nhƣng từ giữa thế kỷ XVIII trở đi, xã hội Đàng Trong ngày càng rơi vào cuộc khủng hoảng trầm trọng, cuộc sống ngƣời dân rơi vào cảnh cùng cực. Nhất là tình trạng chiếm đoạt ruộng đất của bọn địa chủ. Nhân cơ hội chính quyền lơ là trong việc quản lý đất đai, những ngƣời có quyền thế tha hồ sử dụng uy lực để chiếm ruộng đất công làng xã hay ruộng của những ngƣời nông dân phá sản: “có kẻ moi móc văn khế của một người đàn bà đã bán đứt ruộng tư từ 40 năm trước, bảo là công điền của xã mà đem ra tranh kiện; có kẻ đem văn khế của một người đã bán đứt vườn riêng từ hơn 10 năm về 1 Nay là thị xã Quảng Yên, thuộc tỉnh Quảng Ninh.

2 Đây là đội quân đƣợc tuyển lính từ ba phủ Hà Trung, Thiệu Hóa, Tĩnh Gia thuộc hai tỉnh Thanh Hóa và Nghệ An ngày nay, đƣợc vua chúa Lê – Trịnh tin dùng vì có nhiều công lao trong chiến đấu. 11 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com trước, bảo là ruộng hương hỏa của bản tộc, mà đi thưa kiện. 239] Bọn cƣờng hào thì tự do chia nhau ruộng công của làng xã làm ruộng đất của riêng mình, với lý do phải bù tô thuế cho Nhà nƣớc. Và cuối cùng, những ngƣời nông dân mất đất bị rơi vào tình cảnh khốn cùng, phải “tha hương cầu thực”, đi phiêu tán khắp nơi.

Tình trạng thuế khóa nặng nề đè nặng lên vai của ngƣời dân. Để nuôi bộ máy nhà nƣớc cồng kềnh và nhu cầu ăn chơi xa xỉ của giới quý tộc thì cần một nguồn tiền rất lớn. Vì vậy, chính quyền họ Nguyễn không tiếc tay khi đề thêm rất nhiều loại thuế, nhân dân miền núi thì phải nộp lâm thổ sản nhƣ ngà voi, sừng tê, mật ong.: “hằng năm có 100 thứ thuế, mà trưng thu thì phiền phức, gian lận, nhân dân thống khổ về một cổ đôi tròng”[34, tr. Đi liền với việc nộp thuế là một bộ máy thu thuế rất cồng kềnh gọi là bản đƣờng quan.

“cai trưng và quan lại các nha quá nhiều, mỗi người trưng thu lại có vài ba mươi người đốc thúc, tra xét rất phiền nhiễu, lại còn xét hỏi, hành hạ, ẩn lậu, cố tình tăng giảm, sinh sự làm khổ dân”[34, tr 243]. Sƣu cao thuế nặng đã khiến cho nhân dân rơi vào cảnh cùng kiệt, điêu đứng. Thêm vào đó là nạn mất mùa, đói kém xảy ra liên tiếp làm nhân dân chết đói rất nhiều. Từng đƣợc coi là một vựa thóc lớn bởi những điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc trồng lúa, nhƣng giờ đây ở Đàng Trong lại xảy ra tình trạng dân chết đói quá nhiều bởi giá thóc cao vọt, không phải ai cũng mua đƣợc.

Trái với cảnh khốn khó của những ngƣời dân lam lũ là cuộc sống xa xỉ của giai cấp thống trị. Họ sống xa hoa, trụy lạc trên mồ hôi, nƣớc mắt của những ngƣời dân. Những lăng tẩm, cung điện nguy nga, rực rỡ, những lâu đài, dinh thự tráng lệ cùng với những bữa yến tiệc liên miên đã tiêu tốn những khoản tiền thuế không nhỏ. Trong “Phủ biên tạp lục”, nhà bác học Lê Quý Đôn đã nhận xét: “Từ quan to đến quan nhỏ, nhà cửa chạm trổ, .lấy sự phú quý phong lưu để khoe khoang lẫn nhau.Họ coi vàng bạc như cát, lúa gạo như bùn, hoang phí vô cùng”[34, tr.

Trong tình cảnh ấy, nhiều cuộc khởi nghĩa đã nổ ra chống lại chính quyền Đàng Trong. Năm 1747, cuộc khởi nghĩa nổ ra ở Gia Định do một số thƣơng nhân đứng đầu. Tiếp đến nhiều cuộc khởi nghĩa của đồng bào dân tộc thiểu số nhƣ ngƣời Chàm, ngƣời Khơ me để chống lại chính quyền họ Nguyễn. Trong đó, cuộc khởi nghĩa có quy mô 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com rộng lớn nhất là cuộc khởi nghĩa của chàng Lía.

Lía tập hợp dân nghèo nổi dậy, chọn Truông Mây (Bình Định) làm căn cứ, lấy của ngƣời giàu chia cho ngƣời nghèo. * Vua Quang Trung khôi phục và xây dựng đất nước Trong 17 năm (1771 – 1788), phong trào Tây Sơn đã lật đổ các chính quyền Nguyễn, Trịnh, Lê, xóa bỏ ranh giới chia cắt đất nƣớc Đàng Trong – Đàng Ngoài. Đồng thời, phong trào Tây Sơn còn đánh tan các cuộc xâm lƣợc của Xiêm và quân Thanh, bảo vệ nền độc lập và toàn vẹn lãnh thổ của dân tộc. Trong giai đoạn đầu của phong trào Tây Sơn, Nguyễn Nhạc là ngƣời khởi xƣớng và lãnh đạo.

Ông tự xƣng hoàng đế, lấy niên hiệu là Thái Đức, lập ra vƣơng triều Tây Sơn. Nhƣng Nguyễn Nhạc không phải là ngƣời đƣa vƣơng triều Tây Sơn tới đỉnh cao. Với tầm nhìn hạn chế, ông không hiểu đƣợc chí hƣớng và hoài bão lớn của ngƣời em Nguyễn Huệ nên hai anh em đã bất hòa, dẫn tới xung đột vào năm 1787. Sau đó, hai ngƣời đã chia nhau vùng cai trị riêng, lấy ranh giới là sông Bến Ván (Quảng Ngãi).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ