CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ QUAN HỆ MỸ- TRUNG QUỐC TRONG THẬP NIÊN CUỐI CỦA THẾ KỶ XX I.1 Quan hệ Mỹ Trung Quốc trong thời kỳ chiến tranh lạnh Mỹ và Trung Quốc là hai nước lớn có tầm quan trọng đặc biệt trong nền chính trị thế giới. Trong nửa đầu thế kỷ XX, các nhà hoạch định chính sách Mỹ, từ Tổng thống Theodore Roosevelt trở đi, đều ủng hộ sự xuất hiện của một nước Trung Quốc hùng mạnh và thịnh vượng. Họ cho rằng Trung Quốc sẽ thân thiện với Mỹ. Người Mỹ đã nhìn lại thế kỷ của những công việc có ý nghĩa mà họ đã làm được ở Trung Quốc, chẳng hạn như việc xây dựng các trường cao đẳng Cơ đốc giáo-tiền thân của hệ thống giáo dục hiện đại của Trung Quốc, và tài trợ của Quỹ Rockefeller cho các chương trình tái thiết nông thôn và Trường Cao đẳng Y khoa Bắc Kinh, nơi các bác sĩ hàng đầu của Trung Quốc được đào tạo.
Nhiều người Mỹ tin rằng đất nước họ đã ủng hộ sự nghiệp của Trung Quốc chống những kẻ đế quốc châu Âu và Nhật Bản, khởi đầu bằng “Những lá thư mở cửa” từ Washington gửi tới các cường quốc khi sự sống còn của Trung Quốc với tư cách một dân tộc bị đe dọa vào những năm 1899 và 1900. Và rõ ràng nhất là việc Mỹ đã lãnh đạo cuộc đấu tranh giải phóng Trung Quốc khỏi sự xâm lược của Nhật Bản trong Chiến tranh Thế giới Thứ hai. Kể từ sau chiến tranh thế giới thứ hai đến nay, Mỹ luôn giữ được địa vị siêu cường cả về kinh tế, chính trị và quân sự có ảnh hưởng to lớn trên phạm vi toàn cầu. Về phía Trung Quốc, sau chiến tranh thế giới thứ hai, vị thế bị suy giảm, Trung Quốc mất đi vai trò nước lớn và không được coi trọng ở châu Á; mặt khác, đất nước vẫn chưa thống nhất trong tình trạng chia rẽ và nội chiến.
Sau chiến tranh thế giới thứ hai, trật tự hai cực Ianta được hình thành với đặc trưng nổi bật là thế giới chia thành hai phe Tư bản chủ nghĩa và Xã hội chủ nghĩa do hai siêu cường Mỹ và Liên Xô đứng đầu mỗi bên. Cuộc đối đầu Đông Tây ngày càng rõ nét và căng thẳng, đặc biệt là từ sau khi nước cộng hòa nhân 11 dân Trung Hoa ra đời. Với sự thắng lợi của Đảng cộng sản, nước CHND Trung Hoa ra đời cùng với Liên Xô đã trở thành một khối vững chắc phía Đông bán cầu đối trọng với Mỹ ở phía Tây bán cầu. Chính trong bối cảnh đó, quan hệ Mỹ- Trung Quốc đã trải qua nhiều giai đoạn thăng trầm của lịch sử gắn liền với mỗi thay đổi sâu sắc của tình hình thế giới, cùng với những biến cố nội bộ trong nước.
Quan hệ hai nước đi từ đối đầu căng thẳng, dần dần đi tới giai đoạn thăm dò, lợi dụng nhau và điều chỉnh theo hướng vừa tiếp xúc vừa hợp tác, vừa đấu tranh kiềm chế lẫn nhau Nước CHND Trung Hoa ra đời năm 1949 trong bối cảnh thế giới đã hình thành thế cân bằng hai cực Xô-Mỹ. Quan hệ Mỹ-Trung Quốc có những bước thăng trầm cơ bản như sau: I.1 Thời kỳ đối đầu (1949-1970): Ngày 1/10/1949, sau khi đánh bại lực lượng đối lập (Quốc dân đảng do Tưởng giới Thạch đứng đầu), chính phủ Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời, nhà lãnh đạo mới của Trung Quốc Mao Trạch Đông, nghi ngờ ý đồ của Mỹ và tháng 6/1946 ông đã ra lệnh thực hiện chiến dịch bài Mỹ. Lực lượng của Mao Trạch Đông đã sách nhiễu người Mỹ ở Trung Quốc. Một nhà ngoại giao Mỹ đã bị cảnh sát Thượng Hải đánh đập.
Tổng lãnh sự Mỹ ở Mukden bị quản thúc trong một năm liền. Tồi tệ nhất là sự kiện tháng 10/1950 khi quân cộng sản Trung Quốc can thiệp vào Chiến tranh Triều Tiên, chống lại các lực lượng của Liên Hợp Quốc do Mỹ lãnh đạo khi lực lượng này đang cố gắng đẩy lui cuộc xâm lược của Bắc Triều vào Nam Triều Tiên. Khi quân Mỹ và Trung Quốc giết lẫn nhau trên chiến trường với con số lên tới hàng chục nghìn quân, thì mọi ý nghĩ về việc thiết lập quan hệ ngoại giao bình thường giữa Bắc Kinh và Washington đã không còn nữa. Hơn 20 năm sau, Mỹ và Trung Quốc vẫn coi nhau là kẻ thù.
Mặc dù các nhà ngoại giao của họ thỉnh thoảng vẫn “vượt giới tuyến” trong các hội nghị quốc tế 12 và đôi khi tiến hành đàm phán cấp đại sứ, nhưng không nước nào thể hiện sự quan tâm đến việc đạt được một thỏa hiệp. Người Mỹ tiếp tục công nhận Cộng hòa Trung Hoa của Tưởng Giới Thạch - người bị đánh bại trên đại lục và sống sót trên đảo Đài Loan - là chính phủ hợp pháp của Trung Quốc. Mao và những cộng sự của ông không ngừng lên án chủ nghĩa đế quốc Mỹ và từ chối thảo luận bất cứ vấn đề gì ngoại trừ việc Mỹ chấm dứt viện trợ cho Tưởng và bảo vệ Đài Loan. Từ năm 1949 đến cuối thập kỷ 60 là giai đoạn căng thẳng nhất trong quan hệ hai nước và ở trong trạng thái đối đầu nhau.
Sau khi được thành lập, vì các lí do kinh tế, an ninh và hệ tư tưởng, Trung Quốc đã quyết định chọn con đường có lợi cho mình nhất là “nhất biên đảo” ngả theo Liên Xô, chống lại Mỹ. Trong khi đó Mỹ xem Trung Quốc là mối đe dọa cộng sản ở châu Á nên đã thực hiện một chính sách đối ngoại rất thù địch với nước Trung Quốc. Ở Mỹ, Ở Mỹ, sự thù địch của Trung Quốc, làn sóng chống cộng trong nước gia tăng bởi Chiến tranh lạnh, và sự vận động của bè bạn là người Mỹ của Tưởng, tất cả đã ngăn không cho các nhà hoạch định chính sách trong những năm 1950 và 1960 tiếp cận Bắc Kinh. Thực vậy, Washington đã dùng ảnh hưởng của mình để Cộng hòa nhân dân Trung Hoa không được vào Liên Hợp Quốc, ngay cả khi Tổng thống Dwight Esenhower thừa nhận rằng cô lập Trung Quốc là một sai lầm.
Tuy nhiên, giữa những năm 1960, nhận thức được sự chia rẽ Xô-Trung và cường độ chống cộng giảm do tan vỡ ảo tưởng về cuộc chiến tranh ở Việt Nam, dư luận Mỹ về quan hệ với Trung Quốc đã thay đổi. Các nhà lãnh đạo quan trọng của chính phủ và giới học thuật lập luận ủng hộ cái mà họ cho là một chính sách thực tế hơn nếu chấp nhận chế độ Bắc Kinh là chính phủ hợp pháp của Trung Quốc và tìm cách hợp tác với chính phủ đó. Họ nói về chính sách “ngăn chặn mà không cô lập”. Tuy nhiên, Chính quyền của Tổng thống Lyndon Johnson đã bị sa lầy ở Việt Nam và người Trung Quốc thì bị cuốn theo cuộc Đại 13 Cách mạng Văn hóa Vô sản.
Vì vậy không có mối quan hệ mới nào được xác lập. Trong thập kỷ 60, khi Xô-Trung phân liệt mà đỉnh cao là cuộc xung đột biên giới Trung - Xô xảy ra năm 1969, Trung Quốc gần như bị cô lập về mặt ngoại giao. Trung Quốc chuyển sang “tấn công hai mặt”, chống cả Mỹ và Liên Xô. Quan hệ hai nước tiếp tục trong trạng thái “đóng băng”.
Nhưng đến khi đó, người Trung Quốc càng tin rằng sự cải thiện quan hệ với Mỹ sẽ trở thành một đối trọng "hữu ích".2 Thời kỳ thăm dò (1971-1989): Richard Nixon, Phó Tổng thống dưới thời Ensenhower và là ứng cử viên tổng thống thất bại năm 1960, là một nhà lãnh đạo Mỹ nổi tiếng về chống cộng và thù địch với Trung Quốc. Năm 1968, ông được bầu làm Tổng thống Mỹ và khả năng giảm bớt căng thẳng với Trung Quốc do vậy càng trở nên xa vời hơn bao giờ hết. Thế nhưng Nixon đã nhất trí với những tính toán của các quan chức cao cấp Bộ Ngoại giao cho rằng Trung Quốc có thể giúp Mỹ chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam và hỗ trợ nỗ lực của Mỹ nhằm chống lại sức mạnh đang gia tăng của Liên Xô. Ông nhận thấy rằng tâm lý đã thay đổi của công chúng Mỹ, cộng với những thành tích chống cộng của bản thân, sẽ khiến ông có thể thỏa hiệp với Trung Quốc.
Chầm chậm, cẩn thận, và không làm tổn hại tới an ninh của Mỹ, chính quyền Nixon đã bắn tín hiệu mong muốn cải thiện quan hệ với Trung Quốc. Chu Ân Lai, nhà ngoại giao hàng đầu của Trung Quốc, đã phấn đấu để đạt mục tiêu tương tự. Bằng chứng là ông đã mời đội tuyển bóng bàn Mỹ tới thăm Trung Quốc và liên lạc thông qua lãnh đạo của Pakistan. Dần dần ông đã thuyết phục được Mao Trạch Đông rằng Mỹ không còn là mối đe dọa đối với Trung Quốc và 14 có thể có ích cho Bắc Kinh trong nỗ lực chống lại áp lực từ Liên Xô.
Và bước đột phá lớn đã đến năm 1971. Trong Thông điệp Liên bang trước Quốc hội tháng 2/1971, Nixon đã nói về sự cần thiết phải thiết lập đối thoại với Cộng hòa nhân dân Trung Hoa. Ông kêu gọi dành cho chính phủ Bắc Kinh một vị trí tại Liên Hợp Quốc mà không phải hy sinh vị trí của Cộng hòa Trung Hoa ở Đài Loan. Tuy nhiên, năm 1971 Nixon và Mao Trạch Đông nóng lòng muốn lợi dụng lẫn nhau và nhất trí với một phương thức thỏa hiệp "một Trung Quốc nhưng không phải bây giờ".
Trên thực tế, với nhận thức về giá trị chiến lược của việc cải thiện quan hệ với Bắc Kinh, Nixon và cố vấn an ninh quốc gia của ông Henry Kissinger đã sẵn sàng đáp ứng Mao một nửa trên vấn đề này, vì tìm kiếm một đối tác trong cuộc đấu tranh chống Liên Xô còn quan trọng hơn nhiều. Vào ngày 10/4/1971, một đoàn vận động viên bóng bàn Mỹ đến thăm Trung Quốc theo lời mời của nước chủ nhà. Đây là những người Mỹ đầu tiên đến thăm chính thức CHND Trung Hoa kể từ khi nhà nước này ra đời. Và như vậy, lần đầu tiên trong quan hệ quốc tế, xuất hiện khái niệm "ngoại giao bóng bàn" mà chính cú hích "ngoại giao bóng bàn" này đã mở đường cho một loạt sự kiện tiếp theo thể hiện nỗ lực "phá băng" từ cả hai phía.
Đó là hai chuyến đi bí mật của Henry Kissinger đến Bắc Kinh năm 1971 để chuẩn bị cho chuyến thăm được giới báo chí phương Tây mô tả là "mang tính đột phá" của Tổng thống Mỹ Nixon từ ngày 21 đến 28/2/1972 đã đánh dấu một mốc lịch sử quan trọng trong quan hệ Mỹ-Trung, hai bên xích lại gần nhau. Quan hệ hai nước đã được khai thông sau bản “Thông cáo chung Thượng Hải” 1972. Việc Nixon cởi mở với Trung Quốc đã tạo ra biến chuyển quan trọng lớn lao trong cán cân quyền lực của Chiến tranh lạnh.