Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về quan hệ lợi ích trong thu hồi đất nông nghiệp cấp (quận) huyện Chương 2: Phương pháp nghiên cứu. Chương 3: Quan hệ lợi ích trong thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Cẩm Giàng, tỉnh Hải Dương Chương 4: Định hướng và giải pháp nhằm đảm bảo hài hoà quan hệ lợi ích trong thu hồi đất nông nghiệp tại huyện Cẩm Giàng đến năm 2030. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUAN HỆ LỢI ÍCH TRONG THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP CẤP HUYỆN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về quan hệ lợi ích trong thu hồi đất nông nghiệp 1.
Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài Trong khoảng một thập kỷ trở lại đây, có nhiều đề tài, công trình nghiên cứu, những bài viết về quan hệ lợi ích trong thu hồi đất nông nghiệp dành cho phát triển công nghiệp và dịch vụ, trong đó có các nghiên cứu sau: Trần Thị Minh Châu, (2013), Quan hệ lợi ích giữa các chủ thể kinh tế trong Luật Đất đai ở Việt Nam, Tạp chí Cộng sản. Ở đó chỉ ra những bất cập trong phân chia quyền lợi và lợi ích từ đất giữa các chủ thể kinh tế chứa đựng trong luật pháp về đất đai ở Việt Nam. Luật giao cho bộ máy quản lí nhà nước nhiều quyền hạn chi phối đất đai. Nhà nước giữ độc quyền trên thị trường cấp 1, chia quyền sử dụng đất cho các chủ thể kinh tế.
Nếu quyền lực này không kiểm soát tốt để hướng đến các mục tiêu hiệu quả và công bằng thì có thể trở thành công cụ để công chức nhà nước sử dụng phục vụ mục tiêu riêng của họ. Khung giá đất của nhà nước đối với đất nông nghiệp thấp hơn rất nhiều lần so với khung giá đất phi nông nghiệp. Sau khi chuyển mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang đất phi nông nghiệp thì giá đất phi nông nghiệp, nhất là đất ở cao hơn giá trị quyền sử dụng đất nông nghiệp rất nhiều. Giá trị tăng thêm không thuộc quyền sở hữu của nông dân, nên người nông dân luôn chịu thiệt thòi.
Việc nhà nước giao quyền sử dụng đất cho các cơ quan, doanh nghiệp đầu tư kinh doanh bất động sản đã phân phối phần lớn lợi ích từ đất nông nghiệp. Cơ chế thu hồi và đền bù không đảm bảo công bằng và hiệu quả như xã hội mong muốn. Nguyễn Văn Đông, (2021), Pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp để phát triển kinh tế - xã hội ở Việt Nam. Tác giả cho thấy Luật Đất đai năm 2013 vẫn còn bộc lộ nhiều bất cập và chưa phát huy được vai trò quan trọng trong việc bảo đảm 4 quyền lợi chính đáng của người có đất nông nghiệp bị thu hồi, chưa giải quyết được bài toán đảm bảo sự hài hòa lợi ích của Nhà nước, nhà đầu tư và người có đất nông nghiệp bị thu hồi, chưa “hạ nhiệt” các khiếu kiện, vấn đề công khai, minh bạch, dân chủ chưa thực sự được phát huy, vẫn còn lạm quyền trong quá trình thu hồi đất nông nghiệp và chưa phát huy hết tác dụng tích cực trong việc bảo đảm sử dụng nguồn lực đất đai và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.
Phan Trung Hiền, 2016, Điều tiết và cân bằng lợi ích giữa nhà nước, chủ đầu tư và người dân khi nhà nước thu hồi đất, Nghiên cứu lập pháp số 20 (324), tháng 10/2016. Tác giả nêu bật những bất cập trong quá trình xác định lợi ích và điều tiết lợi ích liên quan đến thu hồi đất, đó là: - Bất động sản tăng lên nhờ dự án: Lợi ích chưa được điều tiết. Một số trường hợp sau khi Nhà nước mở đường hoặc nâng cấp giap thông được “ra mặt tiền”, giá trị đất tăng hơn nhiều lần. Một số trường hợp giá đất sau thu hồi đã tăng lên nhiều lần, thậm chí vài chục lần, lớn hơn rất nhiều so với trước thu hồi; - Vấn đề bồi thường, hỗ trợ: Chưa đảm bảo lợi ích lâu dài cho người có đất bị thu hồi, cụ thể: Chính sách của Nhà nước hỗ trợ chuyển đổi nghề bằng tiền đôi khi không đạt được mục đích, nên ít địa phương báo cáo chi tiết về số lượng lao động được đào tạo (từ nguồn hỗ trợ chuyển đổi việc làm) có việc làm ổn định; việc bồi thường, hỗ trợ được thực hiện theo phương thức nhận tiền một lần, một số hộ tiêu dùng không hợp lý, sau khi tiêu hết số tiền bồi thường, hỗ trợ, người dân sẽ không còn tư liệu sản xuất, dẫn đến nghèo đói.
- Cùng với đó, tác giả đưa ra một số bất cập khác trong quá trình xác định lợi ích và điều tiết lợi ích trong thu hồi đất. Tựu chung lại bài viết đề cập đến vai trò điều tiết lợi ích trong thu hồi đất của nhà nước thông qua luật pháp, chính sách chưa được đảm bảo, chủ thể chịu thiệt thòi nhất vẫn là người dân có đất bị thu hồi, một số được hưởng lợi từ việc thu hồi đất nhà nước cũng chưa có chính sách cho đối tượng này. Tạ Thị Hà, (2011), Đánh giá việc thực hiện chính sách bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở một số dự án trên địa bàn huyện Thanh Trì 5 thành phố Hà Nội”. Tác giả đề xuất một số giải pháp để bổ sung, hoàn thiện chính sách bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nhằm đảm bảo lợi ích hợp pháp của tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có đất bị thu hồi, góp phần thiết lập trật tự, kỷ cương pháp luật, hạn chế tranh chấp, khiếu kiện về đất đai trong việc bồi thường giải phóng mặt bằng khi Nhà nước thu hồi đất để xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
Nguyễn Lệ Hoa, (2011), Đánh giá thực trạng thu hồi và đền bù đất nông nghiệp: Nghiên cứu tình huống tại Bắc Ninh, Quảng Ngãi và Bình Dương, Viện chính sách và chiến lược phát triển nông nghiệp nông thôn. Tác giả đưa ra một số kết luận: (1) Hệ thống văn bản pháp luật về thu hồi đền bù và hỗ trợ cho người dân bị thu hồi đất đã dần dần được hoàn thiện theo hướng có lợi cho người dân. Nhìn chung các văn bản luật và dưới luật đã có những quy định cụ thể về các trường hợp thu hồi đất và những quy định về bồi thường và hỗ trợ cho người bị thu hồi đất. (2) Quá trình thu hồi đất tại Bắc Ninh, Quảng Ngãi và Bình Dương có sự khác biệt nhất định, hầu hết cả ba tỉnh đều thu hồi đất theo dự án, tại Quảng Ngãi và Bình Dương có triển khai hình thức thu hồi trắng.
Chỉ có Bình Dương có sự tham gia của doanh nghiệp trong quá trình thu hồi đất, tại Bắc Ninh và Bình Dương, quá trình thu hồi đất được thực hiện bởi các cấp chính quyền. Theo đánh giá, Bình Dương là tỉnh thành công nhất trong công tác thu hồi đất, tiếp theo đó là Bắc Ninh, Quảng Ngãi là tỉnh gặp nhiều khó khăn nhất trong quá trình này. (3)Quá trình chuyển đổi nghề nghiệp diễn ra rất mạnh mẽ tại cả 3 tỉnh khảo sát, tuy nhiên, do có chính sách đặc thù mà sự thành công của các tỉnh là khác nhau. Tại Bình Dương, hầu hết người dân đều hài lòng với mức đền bù, hỗ trợ.
Tỷ lệ này thấp dần tại Bắc Ninh và Quảng Ngãi. (4)Quá trình chuyển đổi nghề nghiệp chủ yếu nhận được sự hỗ trợ bằng tiền, trong gói đền bù, hỗ trợ. Chỉ có một phần đào tạo nghề phục vụ cho nhu cầu của các doanh nghiệp là được thực hiện, tuy nhiên nguồn kinh phí được lấy từ chương trình 1956 của Chính phủ chứ không phải là kinh phí do đền bù đất. Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Thanh Trà, Hồ Thị Lam Trà, (2013), Ảnh hưởng của việc thu hồi đất nông nghiệp đến đời sống, việc làm cảu nông dân huyện 6 Văn Lâm, tỉnh Hưng yên, Tạp chí Khoa học và Phát triển 2013, tập 11, số 1:59-67.
Các tác giả đưa ra nhận xét: Về mặt lý thuyết những hộ có tỷ lệ thu hồi đất nông nghiệp thấp thì thu nhập ít thay đổi, những hộ có tỷ lệ đất nông nghiệp bị thu hồi lớn thì mức thu nhập càng giảm (trong điều kiện không có nguồn thu nhập khác bổ sung). Tuy nhiên trong thực tế những nhóm hộ bị thu hồi đất nhều buộc phải thay đổi nghề nghiệp vì diện tích đất còn lại không đủ để duy trì sự sống. Khi chuyển đổi nghề nghiệp sang lĩnh vực công nghiệp, dich vụ đòi hỏi trình độ cao, năng suất lao động cao, thu nhập cũng cao hơn. Quá trình điều tra thực tế, tác giả cho ra kết quả: So sánh thu nhập trước và sau khi thu hồi đất có thể nhận thấy tỷ lệ hộ gia đình có thu nhập tăng chiếm đa số; số hộ gia đình có thu nhập không thay đổi và không bằng trước kia chiếm tỉ lệ ít.
Cùng với việc tác động đến việc làm, thu nhập thì thu hồi đất nông nghiệp còn có tác động xã hội khác như: Người dân sử dụng khoảng 22% tiền bồi thường đầu tư vào tiêu sản, không mang lại lợi ích về mặt kinh tế trong tương lai (xây dựng, mua sắm tài sản, tiêu dùng hàng ngày…); chính sách đào tạo nghề chưa phù hợp với nhu cầu thực tiễn của doanh nghiệp, vẫn còn hình thức gây lãng phí ngân sách Nhà nước. Những người được đào tạo nghề một số người vẫn không có việc làm ổn định; những người không có việc làm ổn định là những người trẻ tuổi có trình độ văn hóa hạn chế, khó có khả năng chuyển đổi nghề nghiệp dễ sa vào các tệ nạn xã hội; điều kiện sống thay đổi cũng ảnh hưởng tới trẻ em ở khu vực nông thôn, nhiều trò chơi hấp dẫn trên mạng xã hội lôi kéo con em… Nghiên cứu của nhóm tác giả cho thấy thu hồi đất nông nghiệp dành cho phát triển công nghiệp và dịch vụ đã đẩy nhanh quá trình CNH-HĐH và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên các khu, cụm công nghiệp đi vào hoạt động đã nảy sinh những bất cập, ảnh hưởng tới đời sống xã hội của cộng đồng. Lê Hùng, (2022), Hài hòa lợi ích, Báo điện tử Đại biểu nhân dân.
Tác giả trích chỉ đạo của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại Hội nghị lần thứ tư của Ban Chỉ đạo Trung ương tổng kết thực hiện Nghị quyết số 19 – NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Khóa XI: “Việc thu hồi, bồi thường, tái định cư phải đảm bảo hài hòa 7 lợi ích giữa Nhà nước, người dân và doanh nghiệp”.