mở đầu cuộc cải cách và mở cửa, dân chủ hóa đời sống chính trị và 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xóa bỏ kinh tế kế hoạch để phát triển đất nước. Trong thời kỳ chiến tranh lạnh, sự đối đầu Xô – Mỹ đã chi phối hầu hết các quan hệ quốc tế. Đồng thời do tính chất áp đặt của trật tự 2 cực đã tạo ra những mâu thuẫn nội bộ trong mỗi khối, đặc biệt là khi tương quan lực lượng đã thay đổi, hai cực suy yếu tương đối trong khi các đối tác khác đang lớn mạnh dần lên thì ý thức độc lập dân tộc, đòi hỏi sự bình đẳng trong quan hệ quốc tế của các nước ngày càng được nâng cao. Tình hình này tác động mạnh mẽ đối với Trung Quốc.
Thêm vào đó, tình hình nội bộ Trung Quốc phần lớn thời gian của giai đoạn chiến tranh lạnh có nhiều bất ổn, kinh tế không phát triển. Trong bối cảnh đó, Trung Quốc đã có những bước điều chỉnh chiến lược đối ngoại và tư duy phát triển nền kinh tế rất linh hoạt. Từ giữa những năm 80 của thế kỷ XX, trước yêu cầu về xây dựng kinh tế, thực hiện “Bốn hiện đại hóa”, từ cuối thập kỷ 80 Trung Quốc đã củng cố quan hệ với các nước lớn, cải thiện quan hệ với các nước láng giềng và các nước trong khu vực tạo được một môi trường hòa bình, ổn định, nâng cao vai trò, vị thế của mình và thực tế cho thấy thực lực của Trung Quốc ngày càng lớn mạnh về tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là lĩnh vực kinh tế. Sau hai mươi năm cải cách mở cửa nền kinh tế của Trung Quốc đã đạt được nhiều thành tựu kinh tế đặc biệt trong những năm 90 của thế kỷ XX, Trung Quốc đã thành công trong việc làm cho nền kinh tế quốc dân “Hạ cánh mềm”, ứng phó có hiệu quả với cuộc khủng hoảng tài chính ở châu Á…, nền kinh tế tiếp tục tăng trưởng và ổn định, GDP bình quân giai đoạn 1993 – 2005 tăng trưởng 9,9%/năm, nhiều năm liền là nền kinh tế tăng trưởng cao nhất thế giới.
Trung Quốc đã là công xưởng lớn và thị trường lớn của thế giới, với sự phát triển mạnh mẽ của Trung Quốc, điều đó vừa là thách thức đối với kinh tế Việt Nam trong quá trình vươn ra thị trường thế giới phải đương đầu với hàng hóa và dịch vụ giá cả cạnh tranh, chất lượng tốt của nước này, vừa là cơ hội để kích thích tăng trưởng kinh tế hướng vào thị trường rộng lớn, đang gia tăng nhanh chóng nhu cầu hàng hóa và dịch vụ, mà các nước láng giềng như Việt Nam để có cách tiếp thị tốt thì sẽ mở ra triển vọng to lớn. Trong suốt hơn thập niên qua, kể từ ngày quan hệ hai nước bình thường hóa, 16 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com với vị trí đặc biệt vừa là nước láng giềng, vừa là nước lớn, Trung Quốc luôn là một trong những ưu tiên chính trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Đảng, Chính phủ và nhân dân Việt Nam hết sức quý trọng tình hữu nghị truyền thống với nhân dân Trung Quốc. Sự hình thành và phát triển của Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á – Thái Bình Dương (APEC) được thành lập vào tháng 11-1989 trong bối cảnh xu hướng liên kết kinh tế phát triển mạnh mẽ, phát triển kinh tế, đẩy mạnh tự do hóa thương mại và đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh… trở thành những ưu tiên trong quan hệ hợp tác ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương.
Trong tình hình ấy, APEC ra đời và đáp ứng kỳ vọng vào các nền kinh tế khu vực là thiết lập một cơ chế hợp tác nhằm nắm bắt những cơ hội, ứng phó với những thách thức mới do những chuyển biến của tình hình thế giới và khu vực, đẩy mạnh tự do hóa thương mại và đầu tư, thúc đẩy tăng trưởng và phát triển bền vững của các nền kinh tế thành viên. Trong những năm qua, APEC đã trải qua nhiều cột mốc đáng nhớ, từ chỗ là diễn đàn cấp bộ trưởng, sau bốn năm hoạt động, năm 1993 tại Hoa Kỳ, APEC nâng cấp thành hội nghị cấp cao hằng năm từ chỗ chỉ có 12 thành viên, đến nay APEC đã mở rộng gồm 21 nền kinh tế có trình độ phát triển đa dạng, không chỉ có các nền kinh tế phát triển cao như: Hoa Kỳ, Canada, Hàn Quốc, mà có cả những nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc, Nga… vì vậy, hợp tác APEC có những nét đặc thù dựa trên nguyên tắc “Đồng thuận, tự nguyện và không ràng buộc”. Năm 1994, tại Hội nghị cấp cao APEC lần thứ 2 tại Bogor (Indonesia), lãnh đạo các nền kinh tế APEC đưa ra tuyên bố Bogor, xác định mục tiêu và tầm nhìn dài hạn của APEC đến năm 2020 với hai dấu mốc quan trọng là thực hiện tự do hóa thương mại và đầu tư tại châu Á – Thái Bình Dương đối với các nền kinh tế phát triển vào năm 2010 và các nền kinh tế đang phát triển vào năm 2020. Hợp tác APEC với ba trụ cột là tự do hóa, thuận lợi hóa thương mại, đầu tư và hợp tác kinh tế kỹ thuật, đã giành được nhiều thành tựu to lớn.
APEC đã trở 17 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com thành một diễn đàn liên khu vực quan trọng, kết nối nhiều nền kinh tế năng động và đóng góp cho sự phồn vinh và phát triển bền vững trong khu vực cũng như trên thế giới. Mặc dù phải ứng phó với những tác động sâu sắc của toàn cầu hóa, phải đối mặt với cuộc khủng hoảng tài chính năm 1997 – 1998, APEC vẫn đứng vững và thể hiện rõ sức sống của một khu vực phát triển năng động nhất trên thế giới. Hơn 60% GDP, 50% thương mại và 70% tăng trưởng toàn cầu là có sự đóng góp của các thành viên APEC. Không những thế APEC tiếp tục được đánh giá là nơi có nhiều nền kinh tế năng động nhất thế giới, có khả năng phục hồi mạnh mẽ nhất sau khủng hoảng, và được kỳ vọng sẽ là động lực của nền kinh tế toàn cầu.
Trong bối cảnh chủ nghĩa khủng bố và sự gia tăng của các mối đe dọa an ninh phi truyền thống đặt ra những thách thức mới cho khu vực, sự quan tâm của APEC không chỉ giới hạn trong hợp tác kinh tế mà đã mở rộng sang vấn đề an ninh và chính trị của khu vực. Không chỉ dừng lại ở những thành tựu trong khu vực, APEC còn có nhiều đóng góp cho mang ý nghĩa toàn cầu, đặt nền móng cho sự ra đời của tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Thực hiện chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Việt Nam chính thức gia nhập APEC năm 1998.
Nhìn lại toàn bộ quá trình của APEC có thể thấy đây là một diễn đàn có đóng góp quan trọng đối với Việt Nam trên con đường hội nhập. Cùng với ASEAN, APEC đã mang đến cho Việt Nam những lợi ích thiết thực cả về kinh tế, chính trị và văn hóa trong hợp tác đa phương, đồng thời là một kênh hiệu quả để đẩy mạnh hợp tác song phương với các nền kinh tế thành viên APEC. Sự phát triển của các nước khu vực Đông Nam Á Đông Nam Á (South East Asia) là khu vực 11 quốc gia(*), nằm ở phía đông nam lục địa châu Á có diện tích 4,7 triệu km2, có chế độ nhà nước, chế độ chính trị và trình độ phát triển kinh tế khác nhau, với số dân trên 500 triệu người. Trong các nước Đông Nam Á chỉ có Lào là không tiếp xúc với biển còn lại 10 quốc gia đảo (*) Brunei, Campuchia, Indonesia, Đông Timor, Lào, Myanmar, Malaysia, Philippines, Thái Lan, Việt Nam và Singapore.
18 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoặc nằm trên bán đảo, có tiếp xúc với biển Đông, Ấn Độ Dương hoặc Thái Bình Dương. Do đó, Đông Nam Á được xem là chiếc cầu nối đại dương, nằm ở vị trí trọng yếu, nơi nối liền các mạch giao thông giữa các châu lục và đại dương. Trong bối cảnh của những thập niên sau Chiến tranh thế giới thứ hai, sự phát triển nổi bật nhất của Đông Nam Á được đánh dấu bởi sự hình thành và hoạt động của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Ngày 8-8-1967 tại Bangkok (Thái Lan), các Ngoại trưởng của 5 nước Đông Nam Á là Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Philippines và Singapore đã tuyên bố thành lập ASEAN.
Sau đó là lần lượt gia nhập tổ chức này là Brunei (1984), Việt Nam (1995), Lào và Myanmar (1997), và Campuchia (1999). Thời kỳ chiến tranh lạnh, Đông Nam Á trở thành một trong những địa bàn tranh giành ảnh hưởng chủ yếu giữa hai siêu cường là Xô – Mỹ. Các nước trong khu vực, trực tiếp hay gián tiếp đều bị lôi cuốn hoặc chịu ảnh hưởng của những tính toán trong chiến lược toàn cầu của hai siêu cường. Các nước Đông Nam Á do đó đứng trước nhiều thách thức của một thế giới đối cực toàn diện.
Sau Chiến tranh lạnh, xu thế đối đầu Đông - Tây không còn, song Đông Nam Á vẫn là nơi được sự “quan tâm” của nhiều nước lớn. Các nước lớn tìm cách can dự vào khu vực nhằm duy trì, bảo vệ và thúc đẩy lợi ích của họ. Để bảo vệ lợi ích của mình ở khu vực, Hoa Kỳ đã và đang tăng cường duy trì, thiết lập quan hệ trên các lĩnh vực quan trọng với nhiều nước Đông Nam Á và kể cả các nước châu Á – Thái Bình Dương như Nhật Bản, Australia, Hàn Quốc, v.v… Chính vì vậy, cục diện chính trị Đông Nam Á thời kỳ sau chiến tranh lạnh tiếp tục có biến động theo các chiều hướng khác nhau do các yếu tố bên trong và bên ngoài tác động. Trên bình diện kinh tế, dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, nền kinh tế thế giới và khu vực phát triển cả về trình độ lẫn qui mô chưa từng thấy.
Kinh tế trở thành yếu tố có ý nghĩa chi phối trong các mối quan hệ quốc tế. Tiến trình toàn cầu hóa, khu vực hóa cũng được thúc đẩy mạnh mẽ với sự hình thành các thiết chế, tổ chức tài chính- tiền tệ, thương mại…Sự thừa nhận và chú trọng ưu tiên phát triển kinh tế là mục tiêu hàng đầu của mỗi quốc gia là hệ quả của sự tác động đó. Trong đó việc giữ môi trường hòa bình ổn định là diễu kiện 19 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không thể thiếu để phát triển kinh tế.