mở đầu của quá trình tiến tới một ASEAN bao gồm cả 10 nước Đông Nam Á. Tháng 7 năm 1997, TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Lào và Mi-an-ma chính thức gia nhập ASEAN. Và đến năm 1999, Căm-pu-chia gia nhập ASEAN tạo ra một ASEAN 10 thống nhất và có quan hệ hợp tác chặt chẽ và mở rộng. Đây là điều chưa từng có trong lịch sử của Đông Nam Á và là đóng góp quan trọng to lớn cho hoà bình, ổn định lâu dài cho hợp tác phát triển ở Đông Nam Á.
Những biến đổi trong mối quan hệ giữa các nước ở Đông Nam Á đã tạo cơ hội vô cùng thuận lợi cho Nhật tăng cường ảnh hưởng của họ ở khu vực này. Chính sách đối với Đông Nam Á ở thời kỳ Hậu chiến tranh Lạnh được Nhật Bản nhằm vào hai mục đích lớn: + Tích cực duy trì và tăng cường lợi ích kinh tế, ảnh hưởng chính trị của Nhật trong khu vực + Tiếp tục sử dụng Đông Nam Á thành nơi thể nghiệm vai trò cường quốc chính trị mà Nhật Bản đang mong muốn vươn tới. Sự điều chỉnh chính sách Đông Nam Á của Nhật Bản tương đối toàn diện trong Học Thuyết Miyazawa được công bố nhân chuyến thăm các nước ASEAN tháng 1/1993. Xét về thực chất, đây là sự tiếp nối chính sách ba trụ cột ở Đông Nam Á của học thuyết Phu-cư-đa trong bối cảnh quốc tế mới ở khu vực.
Học thuyết Miyazawa bao gồm hai nội dung then chốt: Thứ nhất, trên cơ sở một tầm nhìn lâu dài về an ninh Đông Nam Á, Nhật Bản chủ trương cùng các nước khu vực tập trung hợp tác ổn định tình hình khu vực, thiết lập trật tự và hoà bình ở khu vực. Thứ hai, Nhật Bản kêu gọi hợp tác, phối hợp chặt chẽ với ASEAN để tái thiết Đông Dương, xác lập ―Diễn đàn phát triển toàn diện Đông Dương‖. Bên cạnh đó, trong bài phát biểu tại Hội nghị giữa ASEAN và các đối tác đối thoại (PMC) ngày 26-7-1995, Ngoại trưởng Nhật Bản Yohei Kono: ―Nhật Bản có ý định tăng cường quan hệ với các nước ASEAN hơn bao giờ hết,. Những phát triển của Đông Dương là quan trọng không chỉ đối với chính các nước Đông TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Dương mà còn đối với cả cộng đồng quốc tế và là một nhiệm vụ mà các bạn nên toàn tâm toàn ý trong việc hợp tác với nhau.
Nhật Bản có ý định đóng góp vào sự phát triển của các nước Đông Dương, trong sự cộng tác toàn diện với ASEAN, các nước khác và các tổ chức quốc tế. 25) Sau khi trở thành cường quốc kinh tế thứ hai của thế giới và siêu cường tài chính, Nhật Bản muốn trở thành một cực với đầy đủ quyền lực về kinh tế và chính trị, tham gia giải quyết các vấn đề lớn của khu vực và thế giới. Vì Nhật Bản hiểu rõ rằng có thế lực chính trị là điều kiện để bảo vệ những lợi ích kinh tế của mình trên thế giới và khu vực. Để tiến tới địa vị của một cường quốc thực sự, Tokyo cần phải chứng tỏ được vai trò chính trị của mình trên thế giới mà trước hết ở một khu vực nào đó.
Châu Á, đặc biệt là Đông Nam Á là nơi thích hợp để Nhật Bản thể nghiệm vai trò chính trị trên. Vì vậy, Nhật Bản vẫn coi quan hệ Nhật - Mỹ là nền tảng, lấy Châu Á làm trọng điểm trong đó ưu tiên số một là Đông Nam Á, phát huy vai trò chính trị trong giải quyết các vấn đề quốc tế. Trong chiến lược đối ngoại đó Nhật Bản rất muốn tạo một khu vực ổn định hòa bình an ninh để phát triển kinh tế.2 - Hợp tác giữa ASEAN và Nhật Bản trong lĩnh vực kinh tế: Giai đoạn từ năm 1973 đến 1991: Hợp tác giao thương giữa Nhật Bản và ASEAN đã có từ lâu đời, tuy nhiên, chỉ sau khi hai bên thiết lập quan hệ, mối quan hệ này mới được nâng tầm và có nhiều hoạt động thương mại, đầu tư diễn ra. Với góc nhìn của Nhật Bản, ASEAN là khu vực có tiềm năng và lợi thế phát triển tự nhiên không nhỏ.
Khu vực này có các nguồn lực cơ bản dồi dào bao gồm dầu mỏ, gỗ, cây công nghiệp, cây lương thực và thuỷ sản. Các nước thành viên ASEAN cũng có nguồn dầu và khí đốt dồi dào. In-đô-nê-xi-a và Bru-nây nằm trong số năm nước sản xuất dẫn đầu thế giới về khí đốt hoá lỏng. Tính tổng cộng, ASEAN kiểm soát 40% tổng nguồn cung dầu lửa và khí đốt trong khu vực Châu Á - Thái Bình Dương.
Riêng hai loại sản phầm này hàng năm mang lại cho khu vực 45 – 50 tỷ đô la. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Vị trí địa lý cũng là một lợi thế tự nhiên lớn của ASEAN. Nó tạo cho khu vực này một thế - địa kinh tế, địa chính trị đặc biệt. Gắn với Thái Bình Dương và nối sang Ấn Độ Dương, ASEAN là khu vực có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng do nằm trong giao lộ vận tải hàng hải và hàng không lớn, có sức tăng trưởng nhanh bậc nhất thế giới.
Đây là yếu tố đặc biệt thuận lợi cho sự phát triển của ASEAN, tạo sức hấp dẫn đầu tư và thương mại lớn, làm tăng vị thế của ASEAN trên trường quốc tế. Trong khi đó, Nhật Bản nằm ở Đông Bắc Á thuộc Châu Á, có 3/ 4 đất đai là vùng đồi núi không thích hợp với việc trồng cây lương thực. Nhật Bản là nước đặt biệt nghèo tài nguyên thiên nhiên. Khoáng sản và các nguồn tài nguyên thiên nhiên khác hầu như không có gì ngoài đá vôi và khí sunfua.
Đối với các nguyên, nhiên liệu cơ bản, Nhật Bản phải phụ thuộc phần lớn vào nhập khẩu từ bên ngoài. Đến giữa những năm 70, để bộ máy công nghiệp hoạt động bình thường, Nhật Bản phải nhập tới 82% đồng, 60% chì, 57 % kẽm, 100% nhôm, 100% kền, 91% quặng sắt, 92% than cốc, 100% dầu lửa, 100% uranium, 78% khí tự nhiên (15, tr. Trong tổng số giá trị nhập khẩu nguyên nhiên liệu, nông sản, thực phẩm của mình, Nhật Bản nhập từ khu vực Châu Á - Thái Bình Dương với 25% dầu mỏ, 60% khí đốt nhiên liệu, 96% đay, 82% quặng sắt, 100% thiếc, 92% than đá, 77% nhôm, 88% gỗ, 69% bông, 65% đường, 88% thịt, 92% dầu mỡ, 95% len, 100% lúa mì, đỗ tương, cá, các loại hải sản sống khác (87). Điều này cho thấy khu vực Châu Á - Thái Bình Dương nhất là Đông Nam Á rất cần thiết đối với Nhật Bản cần thị trường cung cấp nguyên vật liệu, lương thực, thực phẩm cho cuộc sống và cho sự phát triển.
Giai đoạn trước Chiến tranh Lạnh, quan hệ giữa ASEAN và Nhật Bản phát triển chủ yếu theo hướng kinh tế, thương mại và đầu tư. Trong thập niên 1970 và 1980, phát triển kinh tế của Nhật Bản đóng vai trò con chim đầu đàn ở Đông Á. Là nước đứng đầu về kinh tế trong khu vực và hỗ trợ, hợp tác tích cực cho các nước TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com ASEAN, là bạn hàng bình đẳng của ASEAN và các nước thành viên ASEAN. Trên cơ sở các nguồn lực kinh tế tự nhiên, bắt đầu từ cao su và các hiện thực địa chiến lược, sự hợp tác kinh tế giữa ASEAN và Nhật Bản đã phát triển mạnh mẽ trong các lĩnh vực thương mại, đầu tư và trợ giúp phát triển.
Nhật Bản chuyển các ngành sản xuất cần nhiều lao động sang các nước Xinh-ga-po, Hồng Công, Đài Loan, rồi sau đó là Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a, Phi-líp-pin… Mô hình đàn nhạn bay đã góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế của Đông Á một cách đáng kể, tạo ra điều kỳ diệu của sự tăng trưởng kinh tế nhanh và cũng dẫn đến sự phụ thuộc lẫn nhau ngày càng lớn hơn giữa ASEAN và Nhật Bản. Đầu tư trực tiếp (FDI) của Nhật Bản vào khu vực Đông Nam Á diễn ra từ đầu những năm 1950 nhưng với quy mô nhỏ. Đến những năm 1960, nguồn vốn đầu tư này bắt đầu tăng dần lên, đáp ứng các nhu cầu của công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu của khu vực. Hướng đầu tư này cũng tiếp tục phát triển vào những năm 1980, theo đó, tính từ năm 1951 đến 1984, đầu tư FDI của các công ty Nhật Bản ở các khu vực Đông Nam Á đạt 12,6 tỷ đô la, chiếm 17,7% tổng đầu tư trực tiếp nước ngoài của Nhật (25, tr.
Nhưng đến năm 1990, do sự sụp đổ nền kinh tế bong bóng, cơ cấu kinh tế của Nhật Bản đã trở nên không ổn định và trì trệ trong một thời gian, tác động dây chuyền đến nền kinh tế Đông Nam Á và vai trò con chim đầu đàn của Nhật Bản bị mờ nhạt. Vì thế, sau khủng hoảng, Nhật Bản càng tích cực hơn tham gia vào hợp tác với các nước ASEAN để nhằm phát triển kinh tế của mình cũng như cải thiện lại vị trí đầu tầu tại Đông Nam Á. Sự tham gia của Nhật Bản vào tiến trình ASEAN + 3 là công cụ hữu hiệu giúp Nhật Bản thể hiện rõ vai trò của mình trong khu vực này thông qua các hình thức hợp tác kinh tế, chính trị, an ninh… Một chính sách quan trọng đã được đưa ra sau những chỉ trích của Nhật Bản đối với Mỹ và có tác động lâu dài tới Đông Nam Á là Hiệp định Plaza năm 1985. Bản hiệp định Nhóm G5 9/1985 đã thay đổi tỷ giá đồng Yên, khiến cho số lượng TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com các công ty Nhật Bản vào thị trường Đông Nam Á tăng lên nhanh chóng dưới hình thức FDI—là một trong những nhân tố góp phần làm nên sự ―thần kỳ‖ ở Đông Á.
Từ năm 1986 đến 1989, đầu tư của Nhật Bản đã tăng từ 15 tỷ USD lên tới 25 tỷ USD (26, tr. Vào cuối thập kỷ 80 của thế kỷ XX, Thủ tướng Ma-lai-xi-a Mahathia Mohamet đã đề xướng chính sách ―Nhìn về Phương Đông‖ và kêu gọi thành lập Nhóm kinh tế Đông Á (EAEG) do Nhật lãnh đạo. Mục đích mà các nhà lãnh đạo ASEAN theo đuổi khi đưa ra sáng kiến EAEG không chỉ nhằm tăng cường hợp tác giữa các nước Đông Á mà còn nhằm sử dụng EAEC như một đối trọng với Thị trường chung duy nhất ở Châu Âu (ESM) và Thoả thuận mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA). Mặc dù Nhật Bản không chấp nhận sáng kiến EAEC của ASEAN, nhưng điều này đã thể hiện mong muốn của ASEAN được mở rộng hợp tác về kinh tế với Nhật Bản hơn trong thời gian tới.
Về hợp tác phát triển giữa ASEAN và Nhật Bản, vào năm 1975, tổng số ODA Nhật Bản dành cho 4 nước thành viên ban đầu của ASEAN là In-đô-nê-xi-a, Thái Lan, Ma-lai-xi-a, Phi-lip-pin lên tới 35,8% tổng ODA của Nhật.