CHƯƠNG 1. QUAN DIEM MÁCXIT VE NHÂN CÁCH VA CÁC THÀNH TỰU KHOA HỌC CÔNG NGHỆ HIEN DAI: MOT SO VAN ĐÈ LÝ LUẬN 11. Quan điểm mác-xit về nhân cách 1. Khái niệm nhân cách theo cách tiếp cận của triết học Mác-xứt Nhân cách được nhiều ngành khoa học nghiên cứu ở những khía cạnh khác nhau như đạo đức học, xã hội học, mỹ học, nhân học.
Triết học nghiên cứu nhân cách và xác định những kết luận trên cơ sở khái quát nhận thức của tất cả các khoa học chuyên ngành, triết học trong đặc thù nhận thức của nó còn có thé chỉ ra xu hướng vận động biến đổi và dự báo về nhân cách. Chúng tôi cho rằng, không có triết học về nhân cách nào lại đứng ngoài, tách rời, hay độc lập tuyệt đối với tâm lý học và các khoa học chuyên ngành đang nghiên cứu về nhân cách. Triết học về nhân cách là một phương thức nhận thức nhân cách, làm cho nhân cách biéu hiện ở phạm vi ứng dụng rộng hơn và ở trình độ khái quát cao hơn. Theo nghĩa đó, nhân cách của một con người hay của một cộng đồng, nếu được phản ánh đúng, phải là một đối tượng có sự thống nhất trong nghiên cứu triết học và trong nghiên cứu của các khoa học về nhân cách khác.
Các nghiên cứu triết học về nhân cách có thé đưa ra những định hướng mang tinh chất thế giới quan và phương pháp luận cho các nghiên cứu chuyên ngành về nhân cách. Những kết luận, luận điểm của triết học trong nghiên cứu nhân cách mang giá trị định hướng bởi nó là kết quả nhận thức những mặt, những thuộc tính, những mối liên hệ của nhân cách con người nói chung trên cơ sở khái quát kết quả của các khoa học chuyên ngành chứ không đứng ngoài tách riêng các khoa học chuyên nganh hay bó hẹp trong chỉ trong phạm vi nhất định của các khoa học chuyên ngành nghiên cứu về nhân cách. Thuật ngữ personality (nhân cách) xuất phát từ tiếng Latinh cổ là persona, nghĩa gốc của từ này là mặt nạ, chỉ vẻ bên ngoài của một cá nhân, nó bắt đầu từ Totem giáo và thái độ sung bái t6 tiên của người nguyên thuỷ. Tuy nhiên, vì nhân cách là một khái niệm phức tạp, bao hàm rất nhiều lớp nghĩa, nghĩa ban đầu của từ không thể chuyền tải hết nội dung mà hiện nay khái niệm nhân cách thể hiện (cả đặc điểm bên trong và những phẩm chất cá nhân cũng như diện mạo bên ngoài của cá nhân), do đó, sau này, khái niệm nhân cách được mở rộng hơn.
Theo thống kê, ngay từ năm 1937, Allport đã cho rằng có 50 định nghĩa tiêu biểu. 15 Thống nhất trong cách hiểu về bản chất xã hội - lịch sử của nhân cách, A. Leonchiep thì cho rằng: “Nhân cách là một cấu tạo tâm lý mới, được hình thành trong các quan hệ sống của cá nhân, đo hoạt động của người đó cải biến đi mà thành”” hay “Nhân cách là sản phâm tương đối muộn của sự phát triển xã hội - lịch sử và của sự tiến hoá cá thé của con người””. Rubinstein nhắn mạnh: “Nhân cách con người nói chung chỉ được hình thành qua quan hệ của con người với những người khác.
Chỉ trong chừng mực mà những quan hệ có tính chất người đối với những người khác đã được xác lập với tôi thì tôi mới tự hình thành như một con người”. Theo các quan niệm nay, nhân cách được hiểu là tất cả các mặt, các phẩm chất mang tính xã hội của con người, được hình thành và phát triển nhờ những quan hệ xã hội mà cá nhân đó sông, hoạt động. Nhân cách, một mặt, là quá trình xã hội hóa cá nhân, quá trình cá nhân thường xuyên điều chỉnh hành vi của mình, quá trình phản tư, quá trình tự đánh giá, tự ý thức của cá nhân sao cho phù hợp với những chuan mực và yêu cầu của xã hội. Nhân cách khi ấy phản ánh trình độ phát triển văn hóa, tinh thần của xã hội đã đạt được trong giai đoạn đương thời.
Mặt khác, nhân cách là quá trình cá nhân hóa xã hội, thé hiện qua dấu ấn của cá nhân, qua vai trò chủ thé với những tính chất riêng, tự do và độc đáo của mỗi người. Nhân cách được coi là một chuẩn mực dé đánh giá thành tựu cũng như thiếu sót trong sự phát triển văn hóa chung của cá nhân. Như thế, quan điểm Mác-xít về nhân cách không hạn chế nhân cách ở mặt này hay mặt khác mà xem nhân cách như là một chỉnh thé có tính lich sử - cụ thé, tham gia vào hoạt động thực tiễn, đóng vai trò là chủ thé nhận thức va cải tạo thế giới, chủ thé của quyền hạn và nghĩa vụ, của những chuẩn mực đạo đức, thẩm my va mọi chuan mực xã hội khác. Là một chỉnh thé nên trong sự hình thành va phát triển nhân cách các yếu tố di truyền, sinh học bam sinh, các yếu tô tâm lý của cá nhân kết hợp chặt chẽ với các yếu tố xã hội trong quá trình sống.
Các yếu t6 xã hội này được thé hiện thành những phẩm chất xã hội đặc thù của cá nhân và chính những phẩm chất này lại quy định nội dung cơ bản của tư tưởng và tình cảm con người, chỉ phối hành động xã hội và hoạt động thực tiễn của nó. Song nhân cách không chỉ là sản phẩm của các quan hệ ?A. Lé6nchiep (1989) (Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia, Phạm Huy Chau dịch), Hoạ động, ý thức, nhân cách, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr. Lêônchiep (1989) (Phạm Minh Hạc, Phạm Hoàng Gia, Phạm Huy Châu dịch), Hoat động, ý thức, nhân cách, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr.202 * Học viện chính trị quân sự (1984) (tài liệu dịch), Tam lý học - Những cơ sở lý luận và phương pháp luận, Hà Nội, tr.57 16 xã hội có tính lịch sử - cụ thé, không chi là sự kế thừa những di sản văn hóa mà còn là chủ thể của các quan hệ xã hội.
Ở nước ta, hiện cũng có nhiều cách hiểu khác nhau về nhân cách. Từ cách tiếp cận hoạt động - giá trị, tac giả Phạm Minh Hạc cho rằng: “nhân cách của con người là hệ thống các thái độ của mỗi người thể hiện ở mức độ phù hợp giữa thang giá tri và thước do giá trị của người ây với thang giá tri và thước do giá trị của cộng đồng va xã hội, độ phù hợp càng cao nhân cách càng lớn””. Còn theo Lê Đức Phúc, để xác định nội hàm khái niệm nhân cách, cần chú ý tới ba tiền đề cơ bản của nhân cách là: tính độc đáo ít hay nhiều; tính tương đăng theo nghĩa dù thay đổi cũng có thé nhận dạng được và tính đại diện cho những giá trị tốt hay xấu, còn có nghĩa là nhân phẩm hay chân giá trị thông qua hoạt động thực tế. Từ đây, ông cho rằng: “nhân cách là câu tạo tâm lý phức hợp, bao gồm những thuộc tính tâm lý cá nhân, được hình thành và phát triển trong cuộc sống và hoạt động, tạo nên nhân diện và quy định giá tri xã hội của mỗi người”5.
Trong khi đó, Trần Trọng Thủy cho rằng, cần xem xét nhân cách là một hệ thống các đặc điểm có ý nghĩa xã hội, đặc trưng cho cá thé như là một con người của một xã hội hay một cộng đồng nhất định. Theo ông, “nhân cách là toàn bộ những đặc điểm, phẩm chat tâm lý quy định gid tri xã hội và hành vi xã hội của cá nhân”. Nhân cách của con người phải được phân tích và được đánh giá ở 3 mức độ khác nhau: mức độ bên trong cá nhân, mức độ bên ngoài cá nhân, mức độ siêu cá nhân”. Đặc điểm chung của các định nghĩa này là có xu hướng đặt gid tri xã hội lên làm một thành tố, một bộ phận quan trọng dé đánh giá và xác định nhân cách.
Mức độ giá trị xã hội của nhân cách được đánh giá là quy định tinh chất xã hội của nhân cách ấy. Dưới góc độ của tam lý học nhân cách, Nguyễn Ngọc Bich hiểu rằng: “nhân cách là hệ thống những phẩm giá xã hội của cá nhân thé hiện những phẩm chất bên trong của cá nhân, mối quan hệ qua lại giữa cá nhân đó với cá nhân khác, với tập thể, xã hội, với thé giới xung quanh và mối quan hệ của cá nhân với công việc trong quá khứ, hiện tại và tương lai”? Như vậy, nhìn chung các nhà nghiên cứu đều thống nhất quan niệm coi nhân cách không phải chỉ là toàn bộ các tính chất hoặc thuộc tính tâm lý của một cá nhân, > Phạm Minh Hạc, Lê Đức Phúc (chủ biên, 2004), Một số vấn dé nghiên cứu nhân cách, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.24 Š Pham Minh Hạc, Lê Đức Phúc (chủ biên, 2004), Một số vấn dé nghiên cứu nhân cách, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, tr.74-76 7 Dẫn theo Dao Thị Oanh (2007), Van dé nhân cách trong tâm ly học ngày nay, NXB Giáo dục, 147 ® Nguyễn Ngọc Bich (1998), Tâm lý học nhân cách: Một số van dé lý luận, NXB Giáo dục, Hà Nội, tr.233 17 mà nhân cách thường được hiéu là “phẩm giá con người”. Nói cách khác, khi vận dụng cho cá nhân thì nhân cách là “giá tri xã hội của một con người có ý thức, bao gồm cả những phẩm chất tâm lý xã hội của người ấy và cả những giá trị mà hoạt động của người ấy tạo ra trong xã hội”. Chúng tôi cho rằng, bản thân mỗi cá nhân, mỗi con người theo một nghĩa nào đó đều đã là một nhân cách.
Mỗi nhân cách cụ thể đều là hiện thực và biểu hiện ra ở mỗi cá thể người. Hơn nữa, nhân cách là nhân cách của từng người, trong tính cá thể sinh động của nó, trong sự tw biểu hiện và tự khẳng định chất lượng phát triển người của nó với tư cách một cá nhân, một chủ thể mang nhân cách. Đây là sự phát triển đặc trưng của cái riêng, của từng cái riêng một trong mối liên hệ mật thiết về bản chất với cái chung. Mỗi cái riêng đó là một con người cá thể, cá nhân mà nhân cách của nó phản ánh nhân cách xã hội, là sản phẩm của sự phát triển xã hội trong những điều kiện lịch sử nhất định.
Từ những chỉ dẫn trên đây, chúng tôi hiểu rằng: Nhân cách là tổng hòa toàn bộ những phẩm chất xã hội của cá nhân, thể hiện trình độ NGUỜI của mỗi cá nhân trước hết về các mặt đạo đức, văn hóa, xã hội. Nhân cách biểu hiện giản tiếp hoặc trực tiếp trong và thông qua các mối quan hệ xã hội của mỗi cá nhân.