phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chương, 12 tiết. Chƣơng 1 NHỮNG NHÂN TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN ĐIỂM CỦA ĐẢNG VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC 1. Về lý luận Cùng với việc xây dựng và bảo vệ đất nước, tổ tiên ta đã dành nhiều công sức phát triển nền giáo dục dân tộc. Cơ sở giáo dục đầu tiên của nhà nước phong kiến Việt Nam (được ghi nhận trong sử sách) là Quốc Tử Giám - Thăng Long, do vua Lý Nhân Tông cho thành lập vào năm 1076.
Lúc đầu Quốc Tử Giám chỉ nhằm dạy con em dòng dõi vua quan, hoàng thân quốc thích, sau mở rộng dần cho những thanh thiếu niên có tư chất và đủ trình độ trong dân gian. Về lực lượng giảng dạy, ngoài những quan chức ở Quốc Tử Giám, triều đình còn cho phép các nhà Nho uyên thâm đến giảng dạy. Sau này, triều Nguyễn đóng đô tại Phú Xuân, đã mở Quốc Tử Giám tại Huế. Ngày nay, Quốc Tử Giám - Thăng Long được xem là trường đại học đầu tiên của Việt Nam.
Sau khi mở mang việc dạy học ở kinh đô, dần dần nhà nước phong kiến chú ý đến việc tổ chức hoạt động giáo dục ở địa phương. Năm 1397, thời vua Trần Thuận Tông, triều đình cho đặt học quan ở các lộ, phủ lớn (đơn vị hành chính tương đương với cấp tỉnh ngày nay) để lo việc giáo dục. “Đến thế kỷ XV - XVI, nền giáo dục Việt Nam đã phát triển rực rỡ. Các phủ, lộ đều có trường công” [21, tr.
Đồng thời việc thi cử tuyển chọn các quan lại được tiến hành khá chặt chẽ xem đây là biện pháp quan trọng nhằm chọn người tài giỏi tham gia bộ máy điều hành quốc gia. Bằng việc tuyển chọn nhân tài thông qua thi cử, tuy hết sức khắt khe nhưng lại mang yếu tố dân chủ vì đã tạo được cơ may cho con cái tầng lớp bình dân. Một điều đặc biệt lý thú là, trong giai đoạn mới thành lập, triều Trần cũng đã tính đến điều kiện học tập không đồng đều giữa các địa phương từ đó quy định một 13 z kỳ thi có hai trạng nguyên: kinh trạng nguyên cho khu vực thuận lợi và trại trạng nguyên cho khu vực khó khăn. Cách mạng Tháng 8 năm 1945 thành công, nhân dân ta từ địa vị nô lệ trở thành người chủ vận mệnh của mình.
Nước ta từ nước thuộc địa nửa phong kiến trở thành quốc gia độc lập, tự do. Bước vào xây dựng xã hội mới, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương “mở một chiến dịch chống mù chữ, coi đó là nhiệm vụ cấp bách thứ hai (chống nạn đói) trong nhiệm vụ cấp bách của chính quyền non trẻ. Vì người cho rằng dốt cũng là kẻ địch. Địch dốt nát giúp cho địch ngoại xâm.
Địch dốt nát cũng như địch tấn công ta về mặt tinh thần cũng như địch thực dân tấn công ta bằng vũ lực. Địch thực dân dựa vào địch dốt nát để thực hiện chiến lược ngu dân. Địch dốt nát dựa vào địch thực dân để đưa ta vào nơi mù quáng”[100, tr. Hồ Chí Minh đã khẳng định “một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, dốt đồng nghĩa với kém, kém là đồng nghĩa với yếu.
Ngày 10/10/1945 chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh số 45 thành lập Đại học Văn Khoa Hà Nội, nay là Đại học Quốc gia Hà Nội, nhằm đào tạo và bồi dưỡng nhân tài phục vụ sự nghiệp kháng chiến và kiến quốc. Ăngghen đã từng khẳng định: “. chỉ có phương tiện cơ giới và hóa học phụ trợ thì không đủ. Cần phải phát triển một cách tương xứng năng lực của con người sử dụng phương tiện đó nữa”[88, tr.
Năng lực ấy, trong điều kiện hiện nay chính là trí tuệ, bản lĩnh, năng lực sáng tạo. của con người. Nó không thể là cái gì khác ngoài sản phẩm của một quá trình giáo dục và tự giáo dục. Do đó, đầu tư cho giáo dục “phải đi trước một bước, thậm chí nhiều bước.
Điều này càng đúng hơn nếu muốn CNH, HĐH đất nước”[24, tr. CNH, HĐH là quá trình tất yếu đưa Việt Nam trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn nhân lực chất lượng cao, phát triển nguồn nhân lực là khâu quyết định sự thành bại của quá trình CNH, HĐH hóa đất nước. Khi Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, bước vào xây dựng chế độ mới, V.Lênin đã chỉ rõ, ''không có tri thức thì không có chủ nghĩa xã hội'' và Người đã yêu cầu mọi người phải luôn luôn ''học, học nữa, học mãi".
Bên cạnh đó, nền kinh tế tri thức đang từng bước hình thành, phát triển, trở thành một xu thế tất yếu chi phối lịch sử phát triển nhân loại. Trong cuốn Thăng trầm quyền lực, Avin Toffler đã khẳng định: “Con đường quyền lực và phát triển kinh tế 14 z của thế kỷ XXI không còn là con đường khai phá phát từ nguyên liệu và gân cốt của con người. Mà như chúng ta đã thấy là phải vận dụng con đường Tâm Trí mà thôi” [113, tr. Nhận thức sâu sắc về sức mạnh của kinh tế tri thức Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Kinh tế tri thức là nền kinh tế mạng, một nền kinh tế có đặc trưng là thông tin, tri thức và kỹ năng có thể chuyển đi bất cứ đâu, bất chấp biên giới quốc gia.
Những phương thức quản lý mới, các hình thức kinh doanh mới, những sản phẩm mới trên thị trường hoàn toàn không có trong nền kinh tế công nghiệp…đã bắt đầu xuất hiện” [41, tr. Do đó, phải có nhận thức mới về con đường phát triển quốc gia, việc cấp bách hiện nay là phải phát triển nhanh giáo dục đặc biệt là giáo dục đại học nhằm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ sự CNH, HĐH đất nước. Nền giáo dục ấy phải đáp ứng được những đòi hỏi gay gắt của xã hội hay nói một cách khác là phải phù hợp với thực tiễn – đào tạo gắn liền với nhu cầu xã hội và bắt kịp bước tiến của nhân loại. Đặc trưng rõ rệt nhất của nền kinh tế tri thức, cuộc cách mạng KH - CN so với các cuộc cách mạng công nghiệp trước đây là các ngành đã đưa ra các yếu tố là thông tin và tri thức lên hàng đầu, đẩy những yếu tố cạnh tranh truyền thống như tài nguyên, vốn… xuống hàng thứ yếu, con người trở thành trung tâm của sự phát triển.
Nhận thức sâu sắc vị trí, vai trò của giáo dục với sự phát triển của đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng bổ sung hoàn thiện quan điểm chỉ đạo, nhằm giải quyết những vấn đề tồn tại, đồng thời đã xây dựng những chiến lược dài hơi với những mục tiêu dài hạn nhằm xây dựng nền giáo dục đại học Việt Nam hiện đại, tiên tiến mang đậm bản sắc dân tộc Việt. Đảng Cộng sản Việt Nam xác định để đạt được mục tiêu của sự nghiệp đổi mới, nhất là trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước, đổi mới không chỉ bằng sự nhiệt tình và lòng dũng cảm mà cần phải có trình độ tri thức khoa học, huy động mọi tài năng sáng tạo và khẳng định: GD – ĐT là quốc sách hàng đầu. Nhân thức rõ điều đó Đảng và Nhà nước đã ghi nhận một cách cụ thể, rõ ràng lần lượt qua các bản Hiến pháp. Trong hai bản hiến pháp đầu tiên tuy giáo dục chưa được quy định trong một chế định riêng biệt nhưng đã được đề cập đến trong phần quyền và nghĩa vụ của người công dân.
15 z Hiến pháp 1946 vấn đề GD- ĐT đã được đề cập trong điều 15: Nền sơ học cưỡng bách và không học phí. Ở các trường sơ học địa phương, quốc dân thiểu số có quyền học bằng tiếng của mình. Học trò nghèo được Chính phủ giúp. Trường tư được mở tự do và phải dạy theo chương trình Nhà nước.
Tuy chưa được quy định cụ thể song nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục nên Nhà nước đã ban hành hàng loạt các văn bản pháp luật như sắc lệnh số 17 ngày 08/9/1945 đặt ra một bình dân học vụ, sắc lệnh số 19 ngày 08/9/1945 lập cho nông dân và thợ thuyền những lớp bình dân buổi tối, sắc lệnh số 20 ngày 08/9/1945 định rằng việc học chữ quốc ngữ từ nay bắt buộc và không mất tiền, sắc lệnh số 146 ngày 10/8/1946 đặt những nguyên tắc căn bản của nền giáo dục mới. Điều 33 Hiến pháp 1959: Công dân nước Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền học tập. Nhà nước thực hiện từng bước chế độ giáo dục cưỡng bách, phát triển dần các trường đại học và cơ quan văn hóa phát triển hình thức giáo dục bổ túc văn hóa, kỹ thuật, nghiệp vụ, tại các cơ quan, xí nghiệp và các tổ chức khác ở thành thị và nông thôn để bảo đảm cho công dân được hưởng quyền đó. Đến Hiếp pháp 1980 giáo dục đại học bắt đầu được tách riêng ra và đưa vào trong một chế định cụ thể, những quy định về giáo dục cũng cụ thể và hoàn thiện hơn, thể hiện trong điều 41: Sự nghiệp giáo dục do Nhà nước thống nhất quản lý.
Nhà nước chăm lo phát triển cân đối hệ thống giáo dục đại học. Đến Hiến pháp năm 1992, những quy định cơ bản về giáo dục đã thể hiện rõ nét tính kế thừa Hiến pháp năm 1980 đồng thời có bước phát triển mới. Tuy chỉ thể hiện trong hai điều 35 và 36 nhưng những nội dung trong đó là tương đối đầy đủ, hoàn thiện và sát với yêu cầu thực tế, đó là: Nhà nước phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; Nhà nước thống nhất quản lý hệ thống giáo dục quốc dân về mục tiêu, chương trình, nội dung, kế hoạch giáo dục, tiêu chuẩn giáo viên, quy chế thi cử và hệ thống văn bằng. Nhà nước ưu tiên đầu tư cho giáo dục, khuyến khích các nguồn đầu tư khác.
Đặc biệt Hiến pháp năm 1992 đã ghi nhận “ GD – ĐT là quốc sách hàng đầu”. Bên cạnh việc tiếp tục khẳng định quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu, điều 61, Hiến pháp 2013 quy định: Nhà nước ưu tiên đầu tư và thu hút các nguồn đầu 16 z tư khác cho phát triển giáo dục đại học. Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Cùng với đó, từ khi đổi mới đến nay, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm, tạo điều kiện cho giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng phát triển.