đặt vấn đề hàng đầu trong những chính sách của nhà nước. Nghiên cứu về nhà ở vốn là một vấn đề rộng và có nhiều đề tài, chủ đề khai thác trải rộng khắp mọi mặt của cuộc sống, bất kể điều gì cũng đều liên quan đến nơi ở của mỗi người. Có thể lấy ví dụ như đối với kinh tế: từ phía nhà nước, kinh tế phát triển mới có thể xây dựng các khu nhà, căn nhà cho người dân, đồng thời đi kèm với đó là khả năng kinh tế đến đâu sẽ xây các khu nhà quy mô tới đó; Từ phía người dân – chủ thể sinh sống tại các căn nhà – dựa trên khả năng kinh tế sẽ có thể chi trả hay thuê một căn hộ có mức giá phù hợp với thu nhập của bản thân. Đó là một ví dụ nhỏ về sự liên hệ giữa nhà ở với các vấn đề từ kinh tế, xã hội, văn hóa, chính trị, giáo dục… Đa phần các nghiên cứu liên quan đến vấn đề nhà ở thường thuộc về các lĩnh vực như xã hội học, nhân học, kiến trúc… Các đề tài chủ yếu tập trung vào quy hoạch đô thị, chính sách phát triển xã hội thông qua các đạo luật được ban hành, các văn bản quy phạm pháp luật hay các vấn đề xã hội có tác động chủ yếu tới nhà ở như dân số, dân cư, văn hóa đời sống… 1.
Nghiên cứu về vấn đề nhà ở nói chung Nhà ở là không gian cư trú, nơi đảm bảo môi trường sống, tái tạo sức lao động và là môi trường văn hóa, giáo dục, tổ ấm hạnh phúc của mọi gia đình, là thước đo sự phồn vinh và tiến bộ xã hội [21]. Nhà ở với đơn vị đại diện là căn hộ - là một khoảng không gian cư trú của con người, là một cơ sở vật chất để thực hiện những chức năng tái sản xuất con người về các mặt sinh học, tinh thần, xã hội [77, 16 1]. Nhà ở là một chủ đề có thể khai thác từ nhiều khía cạnh khác nhau, mà ở đó, mỗi góc nhìn sẽ cho ra một khái niệm, một quan điểm về vấn đề này. Trong từ điển tiếng Anh, từ “nhà ở” được định dạng dưới cả thể danh từ và động từ.
Có thể nhìn nhận “nhà ở” là một đối tượng hàng hóa, vật chất có thể được sản xuất, phá bỏ, sử dụng, nhận thức, trải nghiệm, liên quan đến các vấn đề mua và bán… Nhu cầu của con người quyết định đặc điểm của nơi ở [4, 52]. Nơi ở phải tạo cho con người điều kiện thuận lợi để sau một ngày lao động, được nghỉ ngơi, thoải mái; phải là một điều kiện để tái sản xuất ra năng lượng cho con người để phục vụ cho lao động và sản xuất đạt hiệu quả, năng suất cao hơn. Nó vừa mang lợi ích của cá nhân người lao động nhưng cũng chứa đựng trong đó vì lợi ích của cả xã hội. Nghiên cứu về nhà ở cho thấy một sự đa dạng về cách tiếp cận, đồng thời thể hiện các nhân tố ảnh hưởng, tác động qua lại như yếu tố chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, lịch sử, địa lý… Đây là nghiên cứu liên ngành, đa ngành.
Bất kì một khía cạnh nào cũng đều được xem như một yếu tố tác động tới quá trình hình thành, xây dựng nói riêng và quy hoạch nói chung tới hệ thống nhà ở. Ví dụ như quan điểm của Bo Bengtsoon nêu rõ vai trò của khoa học chính trị trong nghiên cứu nhà ở với những lý thuyết chính trị đó có thể tạo ra nhiều nghiên cứu trực tiếp liên quan tới nhà ở thông qua qua các khái niệm về dân chủ và quyền công dân. Hay theo Ken Gibb, trên khía cạnh kinh tế, đây là một ngành có ảnh hướng lớn nhất trong nghiên cứu về nhà ở, với các cách tiếp cận khác nhau. Munro và Smith đã đưa ra những nhận định với việc xem xét tính kinh tế của việc mua nhà và đặt câu hỏi về các mô hình truyền thống và hành vi của tác nhân trong phân tích kinh tế dựa trên tính hợp lý, nhấn mạnh tầm quan trọng của sự tương tác trong hoạt động thị trường.
Bên cạnh đó còn có nghiên cứu dựa trên khía cạnh kết hợp xã hội học và địa lý học, tâm lý học xã hội… Nhiều nước trên thế giới đều sử dụng phổ biến các phương pháp nghiên cứu điều tra xã hội học để quản lý xã hội, quản lý đô thị, góp phần giải quyết các vấn đề về xây dựng nhà ở. Các ngành nghiên cứu chuyên môn hóa cao, đi sâu vào các lĩnh vực cụ thể được ra đời như xã hội học đô thị, xã hội học nông thôn,. đều 17 nghiên cứu về vấn đề ở. Bên cạnh đó, lý luận xã hội học đại cương và chuyên biệt có vai trò quyết định đối với nghiên cứu xã hội học về ở qua hệ thống cơ sở lý luận, phân tích vấn đề, xây dựng bộ khung lý luận và khái niệm; từ đó lập các giả thuyết và có tính liên kết với các kết quả thực nghiệm thu thập được, khái quát thành những kết luận khoa học về vấn đề nhà ở.
Nhà tập thể là một loại hình nhà ở khá phổ biến trong những năm 30 cho tới những năm 50, 60 của thế kỉ XX. Nhiều quốc gia sử dụng mô hình như một phương án để giải quyết các vấn đề nằm trong quy hoạch tổng thể đô thị. Do vậy, có rất nhiều những nghiên cứu để đưa ra những đánh giá, nhận xét cũng như nhận định về loại hình nhà ở này để có những cải tiến, thay đổi trong tương lai. Công trình tiêu biểu là cuốn sách Vestbro (1982) với khoảng 80 thí nghiệm trực tiếp về các nhà tập thể tại châu Âu và Bắc Mỹ.
Công trình đã mô tả và nhắc đến các sáng kiến, mục tiêu, dịch vụ, thành phần dân cư, hình thái vật chất và sự phát triển đặt trong những thay đổi tình hình chính trị, xã hội thông qua một loại hình đơn vị ở gọi là one-kitchen unit hay dựa trên các thí nghiệm của Liên Xô trước năm 1930. Trong nghiên cứu về nhà tập thể ở Liên bang Xô Viết, thông qua một công trình thực hiện vào năm 1979, hai kiến trúc sư Gothenburg là Claes Caldenby và Asa Wallden đã có những thẩm định, kiểm tra tài liệu của Xô Viết từ những năm 1920, đưa ra các thông tin đính chính về số lượng nhà tập thể được xây dựng thực tế và tập trung phân tích khía cạnh về thiết kế của các khu nhà. Ngoài ra, một trong những nhà tiên phong trong cách mạng về nhà ở - G.Gradov đã viết một cuốn sách bằng tiếng Đức về quy hoạch thị trấn và các hình thức sống đô thị (1970) bao gồm tóm tắt về các thử nghiệm nhà ở năm 1920 – thời gian mà loại hình nhà tập thể khá được ưa chuộng sử dụng. Tại Đan Mạch, lịch sử nghiên cứu về nhà tập thể được ghi chép bởi Hans Erling Langkilde – Giáo sư Kiến trúc tại Học viện Nghệ thuật Copenhagen – trong cuốn sách xuất bản năm 1970.
Nghiên cứu đã đưa ra mô tả có giá trị về hoàn cảnh cũng như sự ra đời của yếu tố với tên gọi khu bếp trung tâm. Đây được xem như là 18 dự án đầu tiên trên thế giới về mô hình nhà ở sử dụng một bếp duy nhất. Ý tưởng chính đằng sau mô hình này cho phép tầng lớp tư sản tầm trung có thể đối phó với chi phí dành cho người giúp việc trong gia đình. Điều này được thực hiện qua cách thay thế nhà bếp riêng của các căn hộ thành sử dụng một nhà bếp trung ở trung tâm, nơi mọi người đều có nghĩa vụ phải chia sẻ.
Đối với mô hình nhà tập thể ở Bắc Âu, một số nghiên cứu khác của Kiến trúc sư, Nhà báo Thụy Sĩ - Erwin Muhlestein (1984-1985) đã mô tả và phân tích các dự án nhà ở dạng tập thể tại Trung Âu trong thế kỉ XIX. Lịch sử phát triển nhà tập thể ở Mỹ được hệ thống hóa trong hai cuốn sách của Dolores Hayden Seven America Utopias (1977) và The Grand Domestic Revolution (1981). Các phân tích trước đó của Hayden chỉ ra rằng các khu định cư mang tính chất chủ nghĩa cộng sản là kết quả của ba lý tưởng: thành phố vườn, văn hóa thời đại máy móc và lý tưởng về ngôi nhà kiểu mẫu [178]. Nhìn nhận vấn đề nhà ở qua góc nhìn xã hội học, đặc biệt trong giai đoạn những năm 60, 70 và 80 của thế kí XX, trong bối cảnh đất nước đang tập trung xây dựng chủ nghĩa xã hội cùng với đó là thực trạng đất nước trong giai đoạn này còn nhiều khó khăn bởi hậu quả của những cuộc chiến tranh kéo dài.
Một vấn đề thấy rõ đó là sự thiếu hụt nặng nề, thiếu thốn nhưng không tương thích với sự gia tăng nhanh chóng về mặt dân số và nhu cầu thiết yếu của nhân dân. Những vấn đề nhu cầu vật chất của nhân dân từng bước được Đảng và Nhà nước đáp ứng và phải đảm bảo sự tăng lên không chỉ về mặt số lượng mà còn về cả chất lượng. Cách mạng xã hội chủ nghĩa đang tạo ra những biến đổi căn bản trên mọi lĩnh vực, lối sống xã hội chủ nghĩa được hình thành đang đưa lại một nội dung hoàn toàn mới trong sinh hoạt gia đình và từ đó cũng tạo ra những nhu cầu mới về ở [4, 51]. Ngành khoa học Xã hội học nghiên cứu dựa trên tình trạng thiếu thốn nhà ở và sự quy hoạch không hợp lý, đi sâu vào khai thác những hậu quả xã hội tất yếu.
Trong nghiên cứu Socio-Economic Change and the Planning of Hanoi [106] của Dean Forbes, tác giả đã chỉ rõ những tác động của đô thị hoá tới các vấn đề cơ sở hạ tầng đồng thời sự ảnh hưởng trực tiếp của cơ chế thị trường tới không chỉ 19 Việt Nam mà còn ở các khu vực khác tại châu Á. Nghiên cứu đi sâu vào các vấn đề của đô thị Hà Nội, đi theo khía cạnh tác động tới cuộc sống của người dân, vấn đề phát triển kinh tế, từ đó đưa ra những gợi mở cho vấn đề quy hoạch tương lai của Hà Nội. Nhóm tác giả Ngai-ming Yip và Trần Hoài Anh với nghiên cứu Urban housing reform and state capacity in Vietnam [184] tập trung nghiên cứu vào quá trình thay đổi các chính sách về nhà ở sau Đổi mới năm 1986, tác động trực tiếp tới các khu nhà tập thể qua cơ chế phân phối nhà ở, xây dựng và sự thay đổi trong phân bố công và tư đối với sở hữu nhà ở tại các khu tập thể.