Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUÁ TRÌNH ĐÔ THỊ HOÁ Ở HUYỆN HOÀNH BỒ, TỈNH QUẢNG NINH (1986 - 2020) 1. Một số vấn đề về đô thị và đô thị hóa 1. Đô thị Xuất phát từ lịch sử hình thành đô thị cổ, các học giả chỉ ra rằng khái niệm đô thị gồm hai thành tố: «đô, thành, trấn hàm nghĩa chức năng hành chính - chính trị; thị có nghĩa là chợ, mang hàm nghĩa kinh tế. Có “thành” và “đô” tất yếu phải có trao đổi, buôn bán, và nơi tập trung buôn bán chính là các chợ.
Trong đó, chức năng chính trị lấn át chức năng kinh tế» [12; tr. Tuy nhiên, trong xã hội hiện đại, định nghĩa trên dường như không bao quát hết khía cạnh của đô thị. Các nhà nghiên cứu, với cách tiếp cận, quan điểm khác nhau đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về đô thị. Trong Từ điển Bách khoa Việt Nam, «Đô thị là một không gian cư trú của cộng đồng người sống tập trung và hoạt động trong những khu vực kinh tế phi nông nghiệp».
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học, đô thị là «nơi dân cư đông đúc, là trung tâm thương nghiệp và có thể cả công nghiệp, thành phố hoặc thị trấn» [70; tr. Tác giả Đàm Trung Phường cho rằng «Đô thị là một đơn vị kinh tế xã hội phản ánh sự vận động của bản thân lực lượng sản xuất và tổ chức xã hội, khi bột phát, khi phát triển bình thường, khi suy thoái làm cho cấu trúc đô thị luôn luôn chuyển hóa. Sự chuyển hóa này mang tính chất vừa sinh học, vừa cơ học, diễn ra từ trong tâm đô thị ra ngoài và từ ngoài tác động vào tâm đô thị» [65]. Tác giả Phạm Trọng Mạnh trong cuốn “Quản lý đô thị” lại đưa ra định nghĩa: «Đô thị là những điểm dân cư tập trung, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của một vùng lãnh thổ, có cơ sở hạ tầng thích hợp và dân cư nội thị không dưới 4000 người (đối với miền núi là 2000 người) với tỷ lệ lao động phi nông nghiệp tối thiểu là 65,0%» [62; tr.
Ở đây, chúng tôi cho rằng để xác định định nghĩa đô thị cần phân biệt với định nghĩa về nông thôn theo 3 đặc trưng sau: «Về các nhóm giai cấp, tầng lớp xã hội thì ở đô thị đặc trưng chủ yếu là giai cấp công nhân, ngoài ra còn có các tầng lớp giai cấp khác như tư sản, thợ thủ công, viên chức, trí thức, v. Còn đối với nông thôn thì đặc trưng chủ yếu ở đây là nông dân, ngoài ra còn có các giai cấp, tầng lớp như địa chủ, 11 phú nông, thợ thủ công nghiệp. Về lĩnh vực sản xuất chủ yếu ở đô thị có đặc trưng là sản xuất công nghiệp; ngoài ra, còn có các lĩnh vực khác như dịch vụ, thương nghiệp, sản xuất tinh thần. Còn đối với nông thôn thì đặc trưng rõ nét nhất là sản xuất nông nghiệp; ngoài ra, còn phải kể đến cấu trúc phi nông nghiệp bao gồm: dịch vụ, buôn bán, tiểu thủ công nghiệp mà có vai trò rất lớn đối với lĩnh vực sản xuất nông nghiệp.
Về lối sống, văn hóa của từng loại cộng đồng, thì đối với nông thôn thường rất đặc trưng với lối sống văn hóa của cộng đồng làng xã mà được phân biệt rất rõ ràng với lối sống thị dân đặc trưng cho khu vực đô thị. Chính đặc trưng thứ ba đã tạo ra bản sắc riêng, diện mạo riêng cho hai hệ thống xã hội đô thị và nông thôn» [45; tr. Với những đặc trưng trên, chúng tôi thống nhất định nghĩa đô thị với nội dung cụ thể như sau: «Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn» [6; tr. Hiện nay, về cơ bản, dựa vào các tiêu chí cụ thể bên trên thì các thành phố trực thuộc trung ương phải là đô thị loại đặc biệt hoặc đô thị loại l; các thành phố thuộc tỉnh sẽ là đô thị loại II hoặc đô thị loại IIl; các thị xã thuộc tỉnh hoặc thuộc thành phố trực thuộc trung ương sẽ là đô thị loại II hoặc đô thị loại IV; các thị trấn thuộc huyện phải là đô thị loại IV hoặc loại V tuỳ vào việc đáp ứng các tiêu chí cụ thể.
Đô thị hóa Đô thị hóa là một hiện tượng kinh tế - xã hội, trong đó chứa đựng mối quan hệ giữa thành thị và nông thôn. Đô thị hóa đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ tiếp cận như: Xã hội học, địa lý học, kinh tế học, đô thị học, kiến trúc học, nhân khẩu học. Từ điển Tiếng Việt định nghĩa: «Đô thị hóa là quá trình tập trung dân cư ngày càng đông vào các đô thị, nâng cao vai trò của thành thị đối với sự phát triển của xã hội» [70; tr. Theo các nhà địa lý, «đô thị hóa đồng nghĩa với sự gia tăng không gian, mật độ dân cư, thương mại, dịch vụ hoặc các hoạt động khác mang tính chất phi nông nghiệp tại một khu vực.
Quá trình đô thị hóa được thể hiện ở sự mở rộng tự nhiên của dân cư 12 hiện có. Sự chuyển dịch dân cư từ vùng nông thôn ra thành thị, nói rộng hơn là sự nhập cư từ các vùng đến đô thị. Sự chuyển dịch đất đai từ mục đích sử dụng đất nông nghiệp sang công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và đất thổ cư». Các nhà quản lý kinh tế cho rằng đô thị hoá là «một quá trình biến đổi về sự phân bố các yếu tố lực lượng sản xuất trong nền kinh tế quốc dân, bố trí dân cư những vùng không phải đô thị thành đô thị, đồng thời phát triển các đô thị hiện có theo chiều sâu.
Dưới từ góc độ của quản lý nhà nước, lại nhấn mạnh đến «khía cạnh chuyển đổi phương thức sống từ nông thôn sang lối sống thành thị; sự gia tăng dân cư đô thị tạo nên nhiều sức ép về dân số, việc làm, cơ sở hạ tầng, dịch vụ và những nguy cơ tiềm tàng về sự phá huỷ môi trường tự nhiên cũng như môi trường xã hội». Các nhà kinh tế học, nhấn mạnh «vai trò và tỷ lệ của 3 lĩnh vực sản xuất để xác định mức độ đô thị hoá. Theo đó, kinh tế công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp sẽ ngày càng đóng vai trò quyết định, khu vực dịch vụ có vai trò quan trọng và ngày càng tăng lên, trong khi tỷ trọng kinh tế nông, lâm, ngư nghiệp sẽ ngày càng giảm dần». Các nhà nghiên cứu về văn hoá - lối sống cho rằng bản chất là quá trình tự phá vỡ các quan hệ của cơ cấu truyền thống đã được hình thành trong dân cư nông nghiệp để thiết lập các thiết chế mới, để phát huy các khả năng sáng tạo mới của cá nhân.
Trong luận văn này, chúng tôi cho rằng đô thị hóa là hiện tượng kinh tế - xã hội phức tạp, nó diễn ra trong một không gian rộng lớn và khoảng thời gian lâu dài để chuyển biến các xã hội nông nghiệp - nông dân sang các xã hội đô thị - công nghiệp và thị dân. Các đặc trưng của đô thị hóa là: «Một là, hình thành và mở rộng quy mô hạ tầng đô thị hiện đại với quy hoạch về cảnh quan kiến trúc theo hướng đô thị hiện đại. Hai là, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ. Ba là, những chuyển biến trong đời sống xã hội ».
Những đặc trưng trên chính là định hướng cho chúng tôi trong quá trình thực hiện các nội dung của luận văn. Những yếu tố tác động đến quá trình đô thị hoá ở huyện Hoành Bồ 1. Vài nét về lịch sử hình thành vùng đất Hoành Bồ Hoành Bồ là vùng đất có lịch sử văn hóa lâu đời. Người Việt cổ đã ở đây từ thời kỳ đồ đá.
Ở mái đá Đồng Đặng và hang Hà Lùng thuộc xã Sơn Dương, mái đá hang Dơi thuộc xã Thống Nhất đã phát hiện những di chỉ thời đá mới. Thời Hùng Vương, từ 13 2879-258 TCN, Hoành Bồ thuộc bộ Ninh Hải. Thời Bắc thuộc lần thứ nhất từ 111 TCN - 40, Hoành Bồ thuộc quận Giao Chỉ. Thời nhà Lý (1010 - 1225), Hoành Bồ thuộc châu Vĩnh An [19; tr.
Thời nhà Lê, Hoành Bồ là một trong ba huyện thuộc phủ Hải Đông, thừa tuyên Yên Bang. Năm 1466, vua Lê Thánh Tông chia cả nước thành 12 Đạo thừa tuyên và một phủ trung đô. Từ năm 1469 đến năm 1490 định lại bản đồ nhưng nói chung ở thời Lê, vùng Yên Bang có một phủ Hải Đông, 3 huyện: An Hưng, Hoành Bồ, Chi Phong và 4 châu: Vạn Ninh, Vĩnh An, Vân Đồn, Tân An. Có sách chép trước thời Lê huyện Hoành Bồ có tên là Hoành Phố.
Đến đời vua Lê Anh Tông, năm 1557, trấn An Bang đổi thành An Quảng, Hoành Bồ trở thành một huyện của trấn An Quảng. Đời vua Lê Dụ Tông, năm 1709 đổi trấn An Quảng thành trấn Yên Quảng [19; tr. Vào thời nhà Nguyễn, năm Minh Mạng thứ 4 (1823) đổi trấn Yên Quảng thành trấn Quảng Yên. Năm 1831, đổi trấn Quảng Yên thành tỉnh Quảng Yên.
Năm Minh Mạng thứ 17 (năm 1836), tỉnh Quảng Yên có 2 phủ Hải Ninh, Sơn Định. Huyện Hoành Bồ là một trong ba huyện thuộc phủ Sơn Định, tỉnh Quảng Yên. Nửa đầu thế kỉ XIX, huyện có 3 tổng, 26 xã, phường, phố. Tổng Tri Xuyên có 6 xã, phường: Tri Xuyên, Dương Hưu, Tàn Ốc, Quảng La, Kính Trạo, phố Trí Xuyên, phường thủy cơ Nam Giang, Giáp Khẩu.
Tổng Vạn Yên có 5 xã, phường: Vạn Yên, Vi Lại, Liêu Giao, Đãi Đán, phường thủy cơ Trúc Võng. Tổng An Khoai có 13 xã, phường: An Khoái, Xích Thổ, An Thổ, Lũ Phong, phường Thủy cơ Giàng Võng, Lương Mông, Vũ Oai, Sơn Dương, Từ Xá, Minh Cần, Đạp Thanh, Lưỡng Kỳ, Dương Huy. Trong huyện thêm 5 động của 7 tộc người Mán: Trí Xuyên, Minh Cầm, Lương Kỳ, Tàn Ốc, Dương Huy. Theo Đồng Khánh dư địa chí, huyện Hoành Bồ có 4 tổng, gồm 26 xã, thôn, phường, phố: Tổng Vạn Yên (5 xã, phường); tổng Dương Huy (8 xã, động); tổng Yên Mỹ (7 xã, phường), tổng Trí Xuyên (6 xã, phường).
Năm 1858, thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta.