mở đầu cho phong trào nhân dân khai hoang, lần đầu tiên dưới chế độ mới, được sự động viên, tổ chức và đầu tư to lớn của nhà nước dành cho công tác tái bố trí nhân lực trên phạm vi toàn miền và khai hoang. Với những chủ trương mà Đảng đã vạch ra trong kỳ Đại hội này, chương trình nhân dân khai hoang thực sự trở thành một cuộc vận động rộng lớn, rầm rộ 1 Năm 1957, Bộ Quốc phòng đã cử 31.000 sĩ quan, hạ sĩ quan đi xây dựng nông trường quốc doanh ở vùng cao. Một số tập đoàn sản xuất cũng đã được thành lập quy tụ những cán bộ từ miền Nam ra tập kết tham gia xây dựng kinh tế.000 cán bộ công nhân viên sản xuất trong các nông trường quốc doanh khai hoang ở trung du và miền núi [19, 19-20] 20 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com trong toàn Đảng, toàn dân1, có sức thu hút mạnh mẽ lòng hăng say phục vụ cách mạng của người công dân xã hội chủ nghĩa. Báo cáo chính trị tại Đại hội III nêu rõ Đảng và Chính phủ đặc biệt quan tâm đến việc phát triển kinh tế miền núi: “Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, sự nghiệp xây dựng kinh tế miền núi có một tầm quan trọng rất lớn… Vấn đề xây dựng kinh tế miền núi là một bộ phận khăng khít của chính sách dân tộc của Đảng ta trong giai đoạn mới của cách mạng” [23, 584- 585].
Vấn đề cốt yếu nhất để phát triển kinh tế miền núi đó là phải khắc phục cho bằng được tình trạng thiếu hụt lao động trầm trọng tại đây. Trong bối cảnh các tỉnh đồng bằng đang trở nên chật vật với lượng dân số ngày một tăng, thiếu đất, thiếu việc làm thì Trung ương Đảng và Chính phủ quyết định thực hiện cuộc vận động to lớn nhằm điều chuyển một lượng lớn dân cư từ các tỉnh đồng bằng lên khai hoang miền núi [23, 587]. Chương trình này được đề cập cụ thể hơn trong nội dung của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965) mà theo đó “Cần chuyển một bộ phận lực lượng của Nhà nước và của nhân dân ở miền xuôi lên một số vùng miền núi, xây dựng một số nông trường và lâm trường, một số công trình thủy lợi, một số xí nghiệp công nghiệp nặng và công nghiệp nhẹ, mở một số trường chuyên nghiệp cần cho việc đào tạo cán bộ, phát triển và củng cố các trục giao thông chính vềđường sắt, đường bộ và đường thủy nối thông giữa các vùng, xây dựng các khu vực sản xuất công nghiệp, nông nghiệp, xây dựng một số thành thị ở miền núi” [23, 848]. Chương trình nhân dân khai hoang thời kỳ 1960 – 1975 có thể được chia làm hai giai đoạn 1960 – 1964 và 1965 – 1975 với mốc chuyển giai đoạn được 1 Tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa II (tháng 4-1963), Quốc hội đã thông qua ba cuộc vận động lớn trên toàn miền Bắc là: 1.
“Cải tiến quản lý hợp tác xã, cải tiến kỹ thuật, nhằm phát triển nông nghiệp toàn diện, mạnh mẽ và vững chắc”; 2. “Nâng cao ý thức trách nhiệm, tăng cường quản lý kinh tế tài chính, cải tiến kỹ thuật, chống tham ô, lãng phí, quan liêu” và 3. “Vận động đồng bào miền xuôi tham gia phát triển kinh tế miền núi”. 21 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com đánh dấu bởi cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân lần thứ nhất (1964 - 1968) của quân đội viễn chinh Mỹ đối với nước Việt Nam Dân Chủ Cộng hòa.1 Từ 1960 đến 1964 Đây là giai đoạn đầu tiên thực hiện cuộc vận động nhân dân khai hoang, là giai đoạn đặt nền tảng cho những chính sách, cách thức tiến hành chương trình này và có thể xem là khuôn mẫu cho công tác di dân khai hoang làm kinh tế mới do Nhà nước tổ chức kéo dài mãi đến đầu thập niên 1990.
Tháng 7-1961, Hội nghị TƯ lần thứ 5 Đảng Lao động Việt Nam ra nghị quyết số 26-NQ/TW về vấn đề phát triển nông nghiệp trong kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, trong đó hướng dẫn công tác khai hoang: “Về khai hoang của nhân dân, phải tận dụng những đất còn bỏ hoang, bỏ hoá, những đất bồi ở ven sông, ven biển, kết hợp việc tổ chức khai hoang gần và nhỏ với việc tổ chức người ở đồng bằng lên khai hoang ở miền núi; dựa vào lực lượng hợp tác xã là chính, đồng thời có sự giúp đỡ tích cực của Nhà nước” [24, 425]. Ngày 20-2-1963, Chính phủ ra quyết định số 16-CP tách Cục Khai hoang nhân dân ra khỏi Bộ Nông trường và đặt thành cơ quan trực thuộc Hội đồng Chính phủ [93]. Tiếp đó, ngày 21-2-1963, Chính phủ ra nghị định 17-CP quy định nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của Tổng cục Khai hoang. Nghị định nêu rõ: “Tổng cục Khai hoang là cơ quan thuộc Hội đồng chính phủ có trách nhiệm quản lý công tác nhân dân khai hoang theo đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước, bảo đảm góp phần quan trọng vào việc hoàn thành tốt nhiệm vụ mở rộng diện tích sản xuất nông nghiệp đièu chỉnh nhân lực giữa vùng đất hẹp người đông và vùng đất rộng người thưa, nhằm phát triển kinh tế quốc dân, cải thiện đời sống của nhân dân, đoàn kết các dân tộc, củng cố hậu phương” [53, 5-8].
Tại các địa phương đều thành lập một ty khai hoang/phòng khai hoang trực thuộc ủy ban hành chính tỉnh nhằm “tổ chức và chỉ đạo thực hiện công tác nhân dân khai hoang ở địa phương theo đường lối, chủ trương, kế hoạch của 22 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com Đảng và Nhà nước, đồng thời chịu sự chỉ đạo của Tổng cục khai hoang về chuyên môn” [53, 9-12]. Như vậy, với những quy định trên, một hệ thống ngành dọc đã được tổ chức từ trung ương đến các tỉnh để đảm bảo công tác khai hoang được triển khai đồng bộ1. Khởi đầu cho công cuộc nhân dân miền xuôi tham gia phát triển kinh tế miền núi là tỉnh Kiến An. Đầu năm 1961, tỉnh Kiến An cử một đoàn cán bộ lên Lào Cai khảo sát thực địa chuẩn bị cho việc đưa dân lên tham gia khai hoang phát triển sản xuất.
Sau một thời gian chuẩn bị, đến tháng 8 cùng năm, đợt di dân đầu tiên từ Kiến An (các huyện An Lão, Tiên Lãng, Vĩnh Bảo) gồm 204 người lên Lào Cai và được bố trí ở xen ghép tại các huyện Bảo Thắng, Mường Khương, Bát Xát. Trên vùng đất mới, người dân Kiến An đã tiến hành lao động sản xuất, lập nên một số hợp tác xã mà tên gọi của chúng biểu hiện cho sự đoàn kết của nhân dân hai miền như An Trà (Kiến An + Bản Trà), An Quang (Kiến An + Quang Kim), Bản Lợi (Thành Lợi + Vụ Bản, Nam Định), Đồng Thái (Kim Thái + Vụ Bản, Nam Định)… Đây cũng là cơ sở để hai tỉnh Kiến An, Lào Cai kết nghĩa vào tháng 11-1961 [6, 280-282]. Sau Kiến An, các tỉnh đồng bằng khác cũng lần lượt lên kế hoạch vận động và tiến hành đưa người dân đi tham gia khai hoang miền núi như Thái Bình, Nam Định, Hải Dương… Chính sách này có tác dụng như một chiếc van xả bớt áp lực dân số đang tăng quá cao tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng, cho nên các tỉnh đều rất chủ động và hăng hái thực hiện. Qua thống kê tình hình di dân khai hoang trong hai năm đầu tiên 1961 – 1962, chúng ta thấy đưa dân đi nhiều nhất đều là những tỉnh có mật độ dân số cao: 1 Có hai hình thức khai hoang là khai hoang gần (trong phạm vi hợp tác xã) và khai hoang xa (từ huyện này sang huyện khác hoặc giữa các tỉnh).
Hình thức khai hoang xa lại gồm hai hình thức nhỏ hơn là khai hoang xen kẽ (gồm 5-7 hộ và sáp nhập với hợp tác xã tại nơi đến) và khai hoang tập thể (30-50 hộ, thành lập nên hợp tác xã mới tại địa phương nơi đến). [18, 29-30] 23 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.3Tình hình vận động người dân tham gia phát triển kinh tế miền núi 1961 – 1962 Tỉnh Số dân đưa đi Mật độ dân số (người) (người/km2) Thái Bình 27.209 383 Nguồn: [18, 6] Hà Nội cũng là một trong những địa phương hưởng ứng cuộc vận động người dân tham gia phát triển kinh tế - văn hóa miền núi này. Ngày 21-6-1963, 200 thanh niên đầu tiên của Thủ đô đã lên đường đi xây dựng kinh tế ở Bắc Cạn và Lai Châu [86, 22-06-1963]. Hai năm sau, ngày 19-5-1965, 1.000 đoàn viên thanh niên tiếp tục được động viên đi các tỉnh Bắc Thái, Hoàng Liên Sơn [86, 20-05-1965].
Lực lượng thanh niên Thủ đô đã tham gia xây dựng nên các hợp tác xã, nông trường tại vùng đất mới như nông trường Sơn Hà (tỉnh Hoàng Liên Sơn), khu kinh tế mới Lục Ngạn (tỉnh Hà Bắc), Phú Bình (tỉnh Bắc Thái)… Trong những năm đầu, hình thức khai hoang chủ yếu là khai hoang tại chỗ và xen ghép với các hợp tác xã sẵn có tại nơi đến, khai hoang tập thể chỉ chiếm khoảng 10% tổng diện tích khai hoang [18, 6]. Phần lớn những người đi khai hoang xen ghép đều đưa gia đình theo, trong khi đó tại các cơ sở khai hoang tập thể, lực lượng đi tiên phong là lao động chính trong các gia đình. Những năm còn lại của kế hoạch 5 năm lần thứ nhất tập trung chủ yếu vào ba mặt: mở rộng diện tích, điều chỉnh nhân lực và khai thác tài nguyên [18, 24 TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Cách thức thực hiện vẫn chủ yếu gồm hai hình thức di dân kể trên, dựa vào hợp tác xã là chính với sự trợ giúp một phần của Nhà nước.
Kết quả trong 4 năm đầu thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, Nhà nước đã vận động được khoảng 50 vạn nông dân từ các tỉnh đồng bằng di cư lên miền núi xây dựng và phát triển kinh tế, nếu tính cả số người đi làm ở các công nông trường, xí nghiệp vùng cao thì con số này lên đến 60 vạn, tương đương với dân số ba tỉnh Lào Cai, Yên Bái và Bắc Kạn lúc đó. Lực lượng di dân đã lập nên 1.250 hợp tác xã nông nghiệp độc lập ở vùng núi, một bộ phận khác được định cư xen kẽ vào trong 1.732 hợp tác xã tại địa phương nơi đến [43, 70]. Trong khi cuộc vận động đang thu hút được sự hưởng ứng của đông đảo người dân thì năm 1964, đế quốc Mỹdựng lên sự kiện Vịnh Bắc bộ, leo thang chiến tranh ném bom miền Bắc.