Luận văn Quản lý nhà nước về hoạt động tín ngưỡng tỉnh Bắc Ninh

Nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, phân tích kết quả đạt được và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu lực.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2022

111
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về quản lý nhà nước hoạt động tín ngưỡng Bắc Ninh

Quản lý nhà nước về hoạt động tín ngưỡng tại Bắc Ninh là quá trình điều chỉnh pháp luật, tổ chức và giám sát nhằm đảm bảo các hoạt động tín ngưỡng diễn ra đúng quy định. Bắc Ninh, với bề dày lịch sử văn hóa, có nhiều loại hình tín ngưỡng đa dạng như thờ Thành hoàng, thờ tổ nghề, thờ anh hùng dân tộc. Nhà nước can thiệp thông qua hệ thống pháp luật, chính sách, và cơ chế quản lý nhằm bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng đồng thời ngăn chặn mê tín dị đoan. Công tác quản lý tập trung vào việc cấp phép, thanh tra, xử lý vi phạm, và tuyên truyền pháp luật. Hiện nay, tỉnh đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động. Mục tiêu là duy trì trật tự xã hội, phát huy giá trị văn hóa truyền thống, và đảm bảo an ninh chính trị.

1.1. Cơ sở pháp lý quản lý tín ngưỡng tại Bắc Ninh

Hệ thống pháp luật quản lý tín ngưỡng tại Bắc Ninh bao gồm Hiến pháp, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo, và các văn bản hướng dẫn của tỉnh. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 là nền tảng pháp lý quan trọng, quy định quyền tự do tín ngưỡng và nghĩa vụ tuân thủ pháp luật. Tỉnh Bắc Ninh ban hành nghị quyết, quyết định về quản lý hoạt động tín ngưỡng trên địa bàn, như Quyết định số 234/QĐ-UBND về quản lý lễ hội. Cơ sở pháp lý còn bao gồm các quy định về cấp phép hoạt động tôn giáo, xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng. Sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng như UBND, Ban Tôn giáo, và chính quyền địa phương đảm bảo tính thống nhất trong quản lý.

1.2. Đặc điểm văn hóa tín ngưỡng Bắc Ninh

Bắc Ninh nổi tiếng với hệ thống tín ngưỡng phong phú, phản ánh đời sống tâm linh và lịch sử dân tộc. Các loại hình tín ngưỡng gồm thờ Thành hoàng (thần bảo trợ làng), thờ tổ nghề (như thờ nghề dệt lụa), thờ anh hùng dân tộc (như thờ các vị tướng thời Lý, Trần). Lễ hội đình làng như hội chùa Dâu, hội đền Đô thu hút đông đảo người tham gia. Tín ngưỡng thờ tổ tiên cũng phổ biến trong cộng đồng. Đặc biệt, Bắc Ninh có văn miếu thờ Khổng Tử và các vị khoa bảng, thể hiện truyền thống hiếu học. Những hoạt động này góp phần bảo tồn bản sắc văn hóa, đồng thời đòi hỏi sự quản lý chặt chẽ để ngăn chặn các biểu hiện mê tín dị đoan.

II. Thực trạng quản lý nhà nước về tín ngưỡng tại Bắc Ninh

Quản lý nhà nước về tín ngưỡng tại Bắc Ninh hiện nay đối mặt nhiều thách thức. Mặc dù hệ thống pháp luật tương đối hoàn thiện, công tác triển khai còn hạn chế do thiếu nguồn lực và kinh nghiệm. Nhiều lễ hội truyền thống diễn ra tự phát, thiếu sự kiểm soát chặt chẽ về an ninh trật tự. Hoạt động mê tín dị đoan vẫn tồn tại dưới hình thức bói toán, chữa bệnh bằng niềm tin. Sự phối hợp giữa các cấp chính quyền còn lỏng lẻo, dẫn đến tình trạng xử lý vi phạm chậm trễ. Bên cạnh đó, nhận thức của người dân về pháp luật tín ngưỡng còn hạn chế, dẫn đến tình trạng vi phạm gia tăng. Tỉnh cũng gặp khó khăn trong việc cân bằng giữa bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng và ngăn chặn các biểu hiện tiêu cực.

2.1. Những tồn tại trong quản lý tín ngưỡng

Một trong những tồn tại lớn là tình trạng cấp phép hoạt động tín ngưỡng chưa chặt chẽ. Nhiều tổ chức tôn giáo hoạt động không có đăng ký, dẫn đến khó kiểm soát. Hoạt động lễ hội diễn ra ồ ạt, thiếu quy hoạch, gây áp lực lớn lên hạ tầng. Các vụ việc vi phạm pháp luật như lấn chiếm đất đai, tổ chức lễ hội trái phép vẫn xảy ra. Sự thiếu hụt cán bộ chuyên trách về quản lý tín ngưỡng tại cấp huyện cũng ảnh hưởng đến hiệu quả công tác. Bên cạnh đó, tình trạng mê tín dị đoan vẫn lan rộng do thiếu sự tuyên truyền, giáo dục pháp luật kịp thời. Những tồn tại này đòi hỏi sự can thiệp quyết liệt hơn từ phía nhà nước.

2.2. Ảnh hưởng của tín ngưỡng đến xã hội Bắc Ninh

Tín ngưỡng tại Bắc Ninh có tác động tích cực đến đời sống tinh thần và bảo tồn văn hóa. Các lễ hội truyền thống thu hút du khách, thúc đẩy phát triển kinh tế địa phương. Hoạt động tín ngưỡng cũng góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, đoàn kết cộng đồng. Tuy nhiên, những biểu hiện tiêu cực như mê tín dị đoan gây ảnh hưởng xấu đến trật tự xã hội. Tín ngưỡng mù quáng có thể dẫn đến tình trạng lạm dụng niềm tin, gây thiệt hại về kinh tế. Ngoài ra, sự chia rẽ tôn giáo, tín ngưỡng có thể gây mất đoàn kết dân tộc. Do đó, quản lý hiệu quả là cần thiết để phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực.

III. Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tín ngưỡng tại Bắc Ninh

Để nâng cao hiệu quả quản lý tín ngưỡng, Bắc Ninh cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp. Trước hết, tăng cường công tác tuyên truyền pháp luật nhằm nâng cao nhận thức của người dân. Xây dựng kế hoạch quản lý lễ hội cụ thể, đảm bảo an ninh trật tự và môi trường. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, như hệ thống đăng ký trực tuyến hoạt động tín ngưỡng. Tăng cường đào tạo cán bộ chuyên trách, nâng cao năng lực quản lý. Hợp tác chặt chẽ giữa các cơ quan chức năng, chính quyền địa phương và cộng đồng tôn giáo. Củng cố hệ thống giám sát, thanh tra, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật. Đồng thời, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng hợp pháp, ngăn chặn mọi biểu hiện mê tín dị đoan.

3.1. Hoàn thiện khung pháp lý và cơ chế quản lý

Bắc Ninh cần hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, đảm bảo tính thống nhất và khả thi. Cụ thể hóa các quy định của Luật Tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với điều kiện địa phương. Xây dựng quy chế phối hợp giữa các sở, ngành, và chính quyền cấp huyện trong quản lý tín ngưỡng. Đề xuất bổ sung chế tài xử phạt mạnh mẽ hơn đối với các hành vi vi phạm. Tăng cường vai trò của Ban Tôn giáo tỉnh trong tham mưu, chỉ đạo. Thường xuyên cập nhật, sửa đổi chính sách phù hợp với tình hình mới. Sự hoàn thiện khung pháp lý sẽ tạo nền tảng vững chắc cho quản lý hiệu quả.

3.2. Đẩy mạnh tuyên truyền và giáo dục pháp luật

Công tác tuyên truyền pháp luật về tín ngưỡng cần được triển khai rộng rãi trên các phương tiện truyền thông. Tổ chức hội nghị, tọa đàm nhằm nâng cao nhận thức của cộng đồng. Phối hợp với các tổ chức tôn giáo, dòng họ tổ chức các buổi tuyên truyền pháp luật. Sử dụng đa dạng hình thức tuyên truyền như tờ rơi, băng rôn, chương trình truyền hình. Tập trung vào đối tượng thanh thiếu niên, người dân vùng sâu vùng xa. Đánh giá hiệu quả tuyên truyền thông qua khảo sát định kỳ. Giáo dục pháp luật từ sớm sẽ giúp ngăn chặn các hành vi vi phạm, xây dựng văn hóa pháp luật trong cộng đồng.

IV. Kết luận và khuyến nghị quản lý tín ngưỡng Bắc Ninh

Quản lý nhà nước về tín ngưỡng tại Bắc Ninh cần tiếp tục được đổi mới và nâng cao. Những kết quả đạt được trong thời gian qua là nền tảng quan trọng, nhưng vẫn còn nhiều thách thức phía trước. Nhà nước cần tăng cường vai trò quản lý, đồng thời tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng hợp pháp. Các giải pháp đề xuất tập trung vào hoàn thiện pháp luật, tăng cường tuyên truyền, và ứng dụng công nghệ. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cấp chính quyền, cộng đồng tôn giáo, và người dân là yếu tố quyết định thành công. Bằng những nỗ lực này, Bắc Ninh có thể phát huy giá trị văn hóa tín ngưỡng, góp phần xây dựng xã hội văn minh, tiến bộ.

4.1. Tầm quan trọng của quản lý tín ngưỡng trong phát triển bền vững

Quản lý tín ngưỡng không chỉ đảm bảo trật tự xã hội mà còn góp phần bảo tồn di sản văn hóa. Bắc Ninh có nhiều giá trị văn hóa tín ngưỡng cần được gìn giữ và phát huy. Hoạt động tín ngưỡng lành mạnh sẽ thúc đẩy du lịch, kinh tế địa phương. Đồng thời, ngăn chặn mê tín dị đoan bảo vệ tài sản, tính mạng người dân. Quản lý hiệu quả cũng góp phần xây dựng môi trường sống lành mạnh, nâng cao chất lượng cuộc sống. Do đó, đây là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển bền vững của tỉnh.

4.2. Định hướng phát triển quản lý tín ngưỡng trong tương lai

Trong tương lai, Bắc Ninh cần xây dựng mô hình quản lý tín ngưỡng thông minh, ứng dụng công nghệ 4.0. Tăng cường hợp tác quốc tế trong quản lý di sản văn hóa phi vật thể. Đẩy mạnh nghiên cứu khoa học về tín ngưỡng, phục vụ công tác quản lý. Xây dựng đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, am hiểu pháp luật và văn hóa địa phương. Tập trung vào giáo dục giới trẻ về giá trị văn hóa tín ngưỡng. Định hướng phát triển này sẽ giúp tỉnh trở thành điểm sáng trong quản lý tín ngưỡng toàn quốc.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI. Nếu bạn thấy nội dung không chính xác hoặc có vấn đề, vui lòng Báo lỗi nội dung.

04/06/2026
Quản lý nhà nước về hoạt động tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh bắc ninh hiện nay

Trích đoạn nội dung tài liệu

phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 chương, 11 tiết. Cơ sở khoa học về QLNN đối với hoạt động tín ngưỡng. Thực trạng QLNN đối với hoạt động tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay. Giải pháp nhằm tăng cường công tác QLNN về hoạt động tín ngưỡng trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh hiện nay.

8 Chƣơng 1 CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ QUẢN NHÀ NƢỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘN TÍN N ƢỠNG 1. Một số khái niệm i n qu n đến đề tài Luận văn Lâu nay, người ta thường hay nói hoặc viết tín ngưỡng và tôn giáo đi liền với nhau, vậy thì tín ngưỡng và tôn giáo là một hay hai khái niệm, và mối quan hệ của chúng ra sao? Nhất là gần đây trên sách báo hay các ngôn ngữ hàng ngày có nhiều người còn chưa hiểu và diễn đạt nhất quán khái niệm tín ngưỡng, tôn giáo và mê tín dị đoan. Ba khái niệm này ranh giới phân biệt chỉ mang tính chất tương đối, chúng có quan hệ chặt chẽ với nhau, đan xen vào nhau. Nhưng xét về phương diện lý luận lẫn thực tiễn, chúng ta vẫn rất cần thiết phải phân biệt chúng.

Trong phạm vi luận văn này, tác giả không có tham vọng nghiên cứu sâu về mặt thuật ngữ, khái niệm và nội hàm của nó, mà chỉ tìm hiểu một số quan điểm của các nhà khoa học về vấn đề này trước khi đi vào nghiên cứu Quản lý nhà nước về hoạt động tín ngưỡng tr n địa bàn tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn hiện nay.1 Khái niệm tín ngưỡng Từ xưa cho đến nay,tín ngưỡng là nhu cầu tinh thần con người, đồng thời còn là một hiện tượng văn hóa độc đáo, phản ánh được niềm tin, ước vọng của con người. Trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng có hàng ngàn các loại hình tín ngưỡng khác nhau, rất phong phú và đa dạng. Ở mỗi chuyên ngành, với cách nhìn, cách tiếp cận riêng, nên dẫn đến việc hiểu khái niệm tín ngưỡng cũng chưa thống nhất với nhau. Ở phương diện từ nguyên.

Theo Từ điển Hán- Việt của học giả Đào Duy Anh, tín ngưỡng được giải thích: “Lòng ngưỡng mộ m tín đối với một tôn giáo hoặc một chủ nghĩa” [1, tr. Đại từ điển tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý (chủ biên) định nghĩa tín ngưỡng là: “lòng tin và sự tôn thờ một tôn giáo”, tức là tín ngưỡng chỉ tồn tại trong một tôn giáo [56, tr.Tương tự như vậy, trong quyển Từ điển Tiếng Việt do Văn Tân (chủ biên), tín ngưỡng nghĩa là: “Tin tưởng vào một tôn giáo: Tự do tín ngưỡng”[15,tr.Như vậy, ở nghĩa từ nguyên, tín ngưỡng chính là niềm tin tôn giáo ở mỗi con người. Ở phương diện văn hóa dân gian, tôn giáo học, nhân học hiện nay có nhiều ý kiến khác nhau khi sử dụng khái niệm tín ngưỡng và tôn giáo. Có nhóm quan điểm phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng, coi tín ngưỡng ở trình độ phát triển thấp hơn so với tôn giáo;cũng có nhóm quan điểm đồng nhất giữa tín ngưỡng và tôn giáo, cụ thể: - Nhóm quan điểm tín ngưỡng hoàn toàn khác và độc lập với tôn giáo.

Nhà dân tộc học Phan Hữu Dật đã phân biệt rất r ràng giữa tín ngưỡng và tôn giáo, ông cho rằng tôn giáo và tín ngưỡng đều là “niềm tin dù đó là tin vào lực lượng si u nhi n một cách chất phác mộc mạc, hay tin vào Đấng Cứu Thế”, nhưng ông cũng nhấn mạnhkhông thể đồng nhất hai thuật ngữ này với nhau và cho rằng“ngưỡng phát triển đến mức nào đó mới thành tôn giáo. Ở cấp độ tín ngưỡng chưa xuất hiện điện thần (hệ thống thần linh, panthénon), chưa có hệ thống giáo lý, chưa có tầng lớp tăng lữ (thày cúng), chưa có việc xây dựng đền, miếu cố định để thờ cúng như sau này đối với tôn giáo dân tộc, tôn giáo khu vực và tôn giáo thế giới”. TS Trần Ngọc Thêm,trongcuốn “Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam”, đã xếp tín ngưỡng thuộc về văn hóa tổ chức đời sống cá nhân và đồng thời nhấn mạnh rằng: “Tín ngưỡng cũng là một hình thức tổ chức đời sống cá nhân rất quan trọng.Từ tự phát l n tự giác theo con đường quy phạm hóa thành giáo lý, có giáo chủ, thánh đường-tín ngưỡng trở thành tôn giáo. Ở xã hội Việt Nam cổ truyền, do mạnh về tư duy tổng hợp mà thiếu óc phân tích n n các tín ngưỡng dân gian chưa chuyển biến hoàn toàn được thành tôn giáo theođúng nghĩa của nó-mới có những mầm móng của những tôn giáo như thế- đó là đạo Ông Bà, đạo Mẫu.

hải đợi khi các tôn giáo thế giới như hật giáo, 10 Đạo giáo, Kitô giáo du nhập vào và đến thời điểm giao lưu với phương Tây, các tôn giáo dân tộc (như Đạo Cao Đài, Đạo Hòa Hảo) mới xuất hiện”[20,tr. Lê Như Hoa trong một công trình "Tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam", cho rằng: “Như vậy, về bản chất, tín ngưỡng cũng như tôn giáo là phương thức nhận thức và cải tạo hiện thực”. Sự khác nhau giữa chúng và cải tạo hiện thực.Sự khác nhau giữa chúng chỉ là những đặc điểm mang tính cách lịch sử. Mặt khác, tác giả, dựa vào đặc điểm, đã đề xuất 5 tiêu chí để phân biệt chúng là: Cội nguồn, đối tượng sùng bái, phương thức thực hành, thiết chế và cuối cùng là phạm vi ảnh hưởng, khung cảnh xã.

Dưới góc độ tâm lý học, PGS. Nguyễn Hồi Loan, Ths. Nguyễn Thị Hải Yến trong bài “Niềm tin vào tín ngưỡng thờ cúng tổ ti n và ảnh hưởng của nó đến đời sống của người dân Hà Nội trong thời kỳ hội nhập văn hóa” cho rằng: Tín ngưỡng là một hiện tượng tâm lý - xã hội biểu hiện niềm tin của một cộng đồng người nhất định về thế giới vô hình, về lực lượng si u nhi n và năng lực chi phối của lực lượng này đối với cuộc sống của con người thông qua hệ thống lễ nghi thờ cúng; quá trình hình thành và phát triển tín ngưỡng gắn liền với lịch sử phát triển của cộng đồng n n nó phản ánh cuộc sống thực tế của cộng đồng người đó”[10, tr. Bên cạnh đó, Luật tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 đã phân biệt r khái niệm tín ngưỡng và tôn giáo.

Theo đó, cả hai khái niệm có sự khác nhau: “Tín ngưỡng là niềm tin của con người được thể hiện thông qua những nghi lễ gắn với phong tục, tập quán truyền thống để mang lại sự bình an về tinh thần cho cá nhân và cộng đồng”; còn “tôn giáo là niềm tin của con người tồn tại với hệ thống quan niệm và hoạt động bao gồm đối tượng tôn thờ, giáo lý, giáo luật, lễ nghi và tổ chức”. Tuy nhiên, xét một cách toàn diện sự phân biệt tôn giáo và tín ngưỡng chỉ có tính chất tương đối.Trong đời sống xã hội, ngôn ngữ, cả hai thuật ngữ tôn giáo, tín ngưỡng đều tồn tại.Nói đến tín ngưỡng là nói đến quá trình thiêng hóa 11 một nhân vật, hiện tượng được con người gửi gắm niềm tin. Quá trình ấy có thể đi kèm theo là huyền thoại hóa, lịch sử hóa nhân vật phụng thờ. - Nhóm quan điểm tín ngưỡng đồng nhất với tôn giáocho rằng tín ngưỡng là bộ phận quan trọng của tôn giáo, nằm trong khái niệm tôn giáo, là cơ sở hình thành tôn giáo.

Tuy nhiên, niềm tin vào cái thiêng đó, cũng theo hoàn cảnh và trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi dân tộc, địa phương, quốc gia mà thể hiện ra dưới các hình thức tín ngưỡng và tôn giáo cụ thể khác nhau như: tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng thờ Thành hoàng, tín ngưỡng thờ mẫu, tín ngưỡng sùng bái tự nhiên…cụ thể như: Dưới góc nhìn của tôn giáo học, nhân học một số nhà nghiên cứu cho rằng: “Tín ngưỡng là trạng thái tâm lý của con người đối với thế lực thi ng, là một bộ phận của tôn giáo và không thể tách rời khỏi tôn giáo, là cơ sở hình thành n n tôn giáo”. Đặng Nghiêm Vạn, trong công trình “Lý luận về tôn giáo và tình hình tôn giáo ở Việt Nam”, đã phân tích khá r khái niệm tín ngưỡng với tư cách là đức tin tôn giáo, tín ngưỡng không hoàn toàn tách rời khỏi tôn giáo: “Nếu hiểu tín ngưỡng là niềm tin thì có một phần ở ngoài tôn giáo, nếu hiểu là niềm tin tôn giáo (belief, believe, theo nghĩa hẹp, croyance religieuse) thì tín ngưỡng chỉ là một bộ phận chủ yếu cấu thành của tôn giáo”. Đặc biệt, khi nhắc đến "tín ngưỡng dân gian" - một khái niệm được nhiều người sử dụng, đặc biệt là các học giả phương Tây, thì ông lại cho rằng đây chính là một dạng tôn giáo bình dân (popular religion): ”Thuật ngữ đó có thể là cách hiểu tôn giáo theo lối bình dân, nghĩa là theo tập quán, theo dư luận hoặc bị cuốn hút vào các nghi lễ, chứ không theo lối chính thống chủ yếu xuất phát từ việc nghi n cứu giáo lý, suy tư rồi giác ngộ mà theo. Hoặc cũng có thể hiểu là các hình thức tôn giáo dân tộc được lưu truyền lại từ xa xưa, gần gũi với cộng đồng như các lễ hội, các cuộc hành hương, các ngày lễ với những rước xách, nhảy múa, thậm chí các hình thức bói toán, tướng số…Ở đó có cả tầng lớp trí thức, mặc dù ít tin theo nhưng vẫn tham gia.

Ở những lễ 12 hội, đám rước,…đó vẫn được đa phần lớp bình dân ở nông thôn hưởng ứng, theo một truyền thống đã có từ lâu trong dân tộc”. Ngoài hai nhóm quan điểm mang tính cơ bản này, trong lĩnh vực nghiên cứu văn hóa dân gian, vốn rất phong phú, đa dạng và là nền tảng của văn hóa truyền thống Việt Nam, các nhà nghiên cứu hay nhắc đến khái niệm tín ngưỡng dân gian. Theo Lê Như Hoa, trong sách “Tín ngưỡng dân gian ở Việt Nam” do ông chủ biên, tín ngưỡng dân gian được hiểu: “Là những hình thái tôn giáo sơ khai, chúng được hình thành tr n cơ sở tâm cách nguy n thủy (primitive metality) để nhận thức hiện thực và tác động đến hiện thực bằng các kỹ xảo (các biện pháp ma thuật) của thuyết hồn linh. Tín ngưỡng “dân gian” ở đây nhằm phân biệt với những tín ngưỡng, tôn giáo chính thống của những xã hội đã có nhà nước (trước khi có nhà nước, chưa có sự phân biệt giữa văn hóa dân gian và văn hóa nhà nước, chưa có sự phân liệt giữa tín ngưỡng dân gian và tôn giáo chính thống)” [8,tr.

Ở đây, tác giả đã chỉ r tín ngưỡng dân gian thuộc về tầng lớp bình dân trong xã hội, khác hẳn tín ngưỡng, tôn giáo chính thống của nhà nước phong kiến thiết lập và quản lí. Một học giả phương Tây khác, Patrick.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ